CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH DỆT MAY 1. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững ngành dệt may 1. Các khái niệm liên quan - Phát triển bền vững: là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.( Báo cáo Brundtland, WCED 1987 ) Nói cách khác, muốn PTBV phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều đó, phải có sự chung tay thực hiện của tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội nhằm mục tiêu dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường.
Từ đây, khái niệm PTBV có một nội dung bao quát, không có phạm vi nhất định, không bị gò bó bởi những chuẩn mực hoặc quy tắc đã định trước và cũng không có tính cụ thể rõ rệt. Khái niệm này có thể diễn nghĩa theo nhiều cách, theo nhiều hướng khác nhau. PTBV là một khái niệm co dãn, dễ áp dụng vào điều kiện thực tế và hoàn cảnh của mỗi quốc gia, mỗi khu vực.Mô hình phát triển bền vững (Hội nghị về Môi trường toàn cầu RIO 92 và RIO 92+5) 11 Cùng với xu hướng chung của thế giới, VN cũng hướng đến các mục tiêu chung: tăng trưởng bền vững, có hiệu quả về mặt kinh tế, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Về nguyên tắc, PTBV là quá trình vận hành đồng thời ba bình diện phát triển: kinh tế tăng trưởng bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn định, văn hoá đa dạng và môi trường được trong lành, tài nguyên được duy trì bền vững.
Do vậy, hệ thống hoàn chỉnh các nguyên tắc đạo đức cho PTBV bao gồm các nguyên tắc phát triển bền vững trong cả “ba thế chân kiềng” kinh tế, xã hội, môi trường. Theo mô hình này PTBV là vấn đề cốt lõi, trung tâm của sự phối hợp một cách hài hoà cả ba mặt tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Tóm lại, các mô hình PTBV rất đa dạng và phong phú, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, hạt nhân của các mô hình nói trên là sự hài hòa của ba nhân tố chính là kinh tế, xã hội, môi trường.
PTBV là quá trình lâu dài, con người cần phải phấn đấu, nỗ lực trong mọi hoạt động mới đạt được mục đích.Mô hình phát triển bền vững của Việt Nam (Nguồn: Tài liệu giảng dạy Fullbright) - Khái niệm ngành dệt may Khái niệm “ngành dệt may” là để chỉ một ngành công nghiệp sản xuất ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người là các loại vải vóc, quần áo và các đồ dùng bằng vải sợi. Sản phẩm của ngành dệt may gồm có: sản phẩm may mặc cuối cùng, các loại vải, các sản phẩm từ sợi (bít tất, khăn lông, thảm …) 12 Ngành dệt may là một trong những ngành chủ đạo của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, gồm 2 ngành chính là ngành dệt và ngành may. Ngành dệt gồm có: xe sợi, dệt / đan vải, nhuộm. Ngành may gồm có: thiết kế sản phẩm, cắt, may và hoàn tất.
- Chuỗi giá trị ngành dệt may: Chuỗi giá trị (value chain) là 1 dãy các hoạt động làm tăng giá trị tại mỗi bước trong quy trình, bao gồm: khâu thiết kế, sản xuất và giao sản phẩm chất lượng đến tay người sử dụng. Hay nói cách khác, chuỗi giá trị ngành dệt may là một tập hợp tất cả các hoạt động tập trung vào việc tạo ra hoặc tăng thêm giá trị cho sản phẩm dệt may cuối cùng. Chuỗi giá trị ngành dệt may được chu chuyển giữa các quốc gia, trong đó lao động gắn liền với chuỗi giá trị toàn cầu. (Baldwin and Lopez-Gonzalez, 2013) Hiện nay, chuỗi giá trị ngành dệt may hiện nay được phân chia ra thành 5 mắc xích: Mắt xích 1- Thiết kế: Đây là khâu có tỷ suất lợi nhuận cao trong chuỗi giá trị và rất thâm dụng tri thức.
Các nước đi trước trong ngành công nghiệp dệt may, sau khi đã dịch chuyển hoạt động sản xuất sang các nước đi sau thường chỉ tập trung vào khâu nghiên cứu và thiết kế sản phẩm mới nhằm tạo ra những thương hiệu nổi tiếng để đạt được tỷ suất lợi nhuận cao nhất. Việc cạnh tranh thương hiệu đang rất khốc liệt trên thị trường dệt may thế giới, các thương hiệu cạnh tranh nhau bằng các mẫu thiết kế đẹp, sáng tạo. Yếu tố quan trọng để thâm nhập và “trụ” vững được ở mắt xích này đòi hỏi các doanh nghiệp cần có các nhà thiết kế có khả năng nắm được xu hướng, thị hiếu thời trang của người mua toàn cầu. Mắt xích 2 - Sản xuất nguyên phụ liệu: Đây là mắt xích quan trọng hỗ trợ cho ngành may mặc phát triển và là khâu thâm dụng đất đai và vốn.
Đối với hàng may mặc, giá trị của phần nguyên phụ liệu chiếm tỷ trọng lớn và quyết định đến chất lượng sản phẩm. Nguyên phụ liệu trong ngành dệt may thường chia thành hai phần: nguyên liệu chính và phụ liệu. Nguyên liệu chính là thành phần chính tạo nên sản phẩm may mặc, chính là các loại vải. Phụ liệu là các vật liệu đóng vai trò liên kết nguyên liệu, tạo thẩm mỹ cho một sản phẩm may mặc, gồm có hai loại phụ liệu chính 13 là chỉ may và vật liệu dựng.
Vật liệu dựng là các vật liệu góp phần tạo dáng cho sản phẩm may như: khóa kéo, cúc, dây thun, … Mắt xích 3 – Cắt May: Đây là mắt xích thâm dụng lao động nhất nhưng lại có tỉ suất lợi nhuận thấp nhất chỉ chiếm khoảng 10-15% (Jocelyn Trần, 2011). May là khâu mà các nước mới gia nhập ngành thường chọn để thâm nhập đầu tiên vì nó không đòi hỏi đầu tư cao về công nghệ và rất thâm dụng lao động. Những nước đang tham gia ở khâu này thường thực hiện việc gia công lại cho các nước gia nhập trước, đây chính là đặc điểm chung của khâu sản xuất trong ngành dệt may thế giới. Các quốc gia có ngành dệt may phát triển, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu từ lâu thường không còn thực hiện các công đoạn trong khâu này nữa mà hợp đồng gia công lại cho các quốc gia mới gia nhập ngành, có nguồn lao động giá rẻ và việc sản xuất nguyên phụ liệu đầu vào chưa phát triển như Bangladesh, Pakistan và Việt Nam.
Đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động gia công, tỷ lệ giá trị thu về trong phân khúc may cũng sẽ khác nhau tùy theo phương thức xuất khẩu là CMT, FOB hay ODM. Mắt xích 4 - Mạng lưới tiêu thụ trong nước và xuất khẩu: Đây là khâu thâm dụng tri thức, gồm các công ty may mặc có thương hiệu, các văn phòng mua hàng, và các công ty thương mại của các nước. Một trong những đặc trưng đáng lưu ý nhất của chuỗi dệt may do người mua quyết định là sự tạo ra các nhà buôn với các nhãn hiệu nổi tiếng, nhưng không thực hiện bất cứ việc sản xuất nào. Họ được mệnh danh là những “nhà sản xuất không có nhà máy” do hoạt động sản xuất được gia công tại hải ngoại, điển hình như các công ty Mast Industries, Nike và Reebok.
Các công ty này đóng vai trò trung gian kết hợp chuỗi cung ứng giữa các nhà may mặc, các nhà thầu phụ với các nhà bán lẻ toàn cầu. Trong chuỗi dệt may toàn cầu, chính các nhà buôn, các nhà cung cấp là các trung gian đóng vai trò then chốt và nắm giữ phần lớn giá trị trong chuỗi mặc dù họ không hề sở hữu nhà máy sản xuất nào. Hiện nay các nhà buôn, người mua ở Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc đang nắm đa số các điểm nút của mạng lưới này, đây được xem là “ba ông lớn” trong chuỗi cung ứng hàng dệt may thế giới. 14 Mắt xích 5 - Thương mại hóa: Mắt xích này bao gồm mạng lưới marketing và phân phối sản phẩm, đây cũng là khâu thâm dụng tri thức.
Các nhà bán lẻ nổi tiếng trên thế giới đang nắm giữ khâu này và thu được nguồn lợi nhuận khổng lồ hàng năm. “Tại thị trường châu Âu, các nhà phân phối thường chính là nhà thiết kế, vì hơn ai hết, chính họ là người tường tận nhất nhu cầu và điều kiện để thoả mãn thị hiếu của khách hàng. Các chuyên gia trong ngành dệt may ước tính, tới 70% lợi nhuận (tính trên một sản phẩm may mặc từ khâu đầu đến khâu cuối cùng của chuỗi giá trị) thuộc về các nhà phân phối lẻ này”. Đây là mắt xích có suất sinh lợi cao nhất, do các công ty lớn trên thế giới nắm giữ và họ thường tạo ra các rào cản gia nhập ngành nên các quốc gia mới gia nhập chuỗi giá trị rất khó để xâm nhập được khâu này.
Các công ty trong khâu này không trực tiếp làm ra sản phẩm, chỉ thực hiện hoạt động phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng nhưng họ đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và tác động đến chuỗi dệt may thế giới vì họ nắm rõ nhu cầu của những người tiêu dùng, cung cấp xu hướng thời trang cho các nhà thiết kế sản phẩm và nắm giữ hệ thống bán hàng, kênh phân phối trên toàn cầu.Chuỗi giá trị của ngành dệt may (Nguồn: Chương trình giảng dạy kinh tế FulBright) 15 - Phương thức sản xuất ngành dệt may: là cách thức doanh nghiệp thực hiện quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm dệt may trong một khoảng thời gian nhất định. Trên thế giới hiện nay, có 4 phương thức chủ yếu cho sản xuất hàng xuất khẩu: CMT (Cut – Make – Trim): Đây là phương thức xuất khẩu đơn giản nhất của ngành dệt may và mang lại giá trị gia tăng thấp nhất. Khi hợp tác theo phương thưc snày, người mua cung cấp cho doanh nghiệp gia công toàn bộ đầu vào để sản xuất sản phẩm bao gồm nguyên liệu, vận chuyển, mẫu thiết kế và các yêu cầu cụ thể; các nhà sản xuất chỉ thực hiện việc cắt, may và hoàn thiện sản phẩm. Doanh nghiệp sản xuất theo phương thức CMT chỉ cần có khả năng sản xuất và hiểu biết cơ bản về thiết kế để thực hiện mẫu sản phẩm.
OEM/FOB (Original Equipment Manufacturing): FOB là phương thức xuất khẩu ở mức cao hơn so với CMT: Đây là hình thức sản xuất theo kiểu “mua nguyên liệu, bán thành phẩm”.