Tổng quan nghiên cứu

Ngành dệt may Việt Nam giữ vai trò là một trong những trụ cột xuất khẩu hàng đầu của nền kinh tế quốc dân, duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng bình quân 20%/năm trong giai đoạn 2000 - 2012 và đóng góp từ 13,2% đến 16,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Với sự hiện diện của hơn 2.000 doanh nghiệp quy mô lớn nhỏ, ngành đã tạo sinh kế trực tiếp cho hơn 2 triệu lao động công nghiệp, đồng thời mang lại nguồn thu ngoại tệ khổng lồ vượt 15 tỷ USD vào năm 2012. Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng về quy mô kim ngạch là một nghịch lý lớn về hiệu quả kinh tế: giá trị gia tăng thực tế mà các doanh nghiệp Việt Nam thu về chỉ chiếm khoảng 20% tổng giá trị xuất khẩu. Nguyên nhân cốt lõi là do ngành phụ thuộc nặng nề vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu từ 70% đến 80%, trong khi phần lớn các đơn vị sản xuất chỉ tham gia vào khâu gia công cắt may đơn thuần với biên lợi nhuận mỏng manh từ 5% đến 10%.

Trước áp lực gia tăng từ chi phí nhân công, sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia trong khu vực và các tiêu chuẩn khắt khe từ các thị trường nhập khẩu lớn như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu hay Nhật Bản, việc nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành một đòi hỏi sống còn. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là đánh giá toàn diện mức độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam giai đoạn 2005 - 2012, chỉ ra các nút thắt nội tại trong khâu thiết kế, cung ứng nguyên phụ liệu và phân phối tiếp thị, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm giúp doanh nghiệp chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức gia công xuất khẩu sang các phương thức sản xuất có hàm lượng giá trị cao hơn. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học để nâng tỷ lệ nội địa hóa ngành vượt mốc 50% và cải thiện tỷ suất giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất thêm 5% đến 10% trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận vững chắc về chuỗi giá trị và phân công lao động quốc tế. Trọng tâm của khung phân tích là lý thuyết chuỗi giá trị của Michael Porter (1985), tập trung xem xét các hoạt động cơ bản bao gồm hậu cần đầu vào, vận hành sản xuất, hậu cần đầu ra, tiếp thị bán hàng, dịch vụ hỗ trợ cùng các hoạt động bổ trợ như phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực và mua sắm nguyên vật liệu nhằm tối ưu hóa lợi thế cạnh tranh. Tiếp nối tư tưởng đó, lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu của Raphael Kaplinsky và Mike Morris (2000) được vận dụng để phân tích cả mô hình chuỗi giá trị giản đơn lẫn chuỗi giá trị mở rộng, bao hàm các mối liên kết dọc và liên kết ngang từ khâu cung cấp nguyên liệu thô thượng nguồn đến khâu tiêu thụ hạ nguồn.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp sâu sắc mô hình chuỗi giá trị toàn cầu ngành may mặc do Gary Gereffi và các cộng sự (1999, 2003) phát triển, phân định rõ nét đặc tính của chuỗi giá trị định hướng người mua, nơi các nhà bán lẻ đa quốc gia và các thương hiệu hàng đầu nắm giữ quyền lực chi phối. Mô hình đường cong nụ cười cũng được đưa vào để minh họa sự phân bổ bất đối xứng của giá trị gia tăng qua 5 mắt xích: nghiên cứu thiết kế mẫu mã, sản xuất nguyên phụ liệu, gia công may mặc, xuất khẩu thương mại và tiếp thị phân phối sản phẩm. Một hệ thống các khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm: phương thức gia công cắt may đơn thuần (CMT), sản xuất trọn gói bao gồm mua nguyên liệu (FOB), sản xuất theo thiết kế nguyên bản (ODM), sản xuất mang thương hiệu gốc (OBM), cùng các chỉ tiêu đo lường như tỷ số giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất (VA/GO) và tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm.

Phương pháp nghiên cứu

Để đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy của các kết luận, nghiên cứu sử dụng kết hợp linh hoạt giữa phương pháp nghiên cứu tại bàn và khảo sát thực địa trong khoảng thời gian nghiên cứu kéo dài 12 tháng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ hệ thống niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, các báo cáo tài chính và tổng kết ngành của Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VINATEX), Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), cơ sở dữ liệu của Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công nghiệp thuộc Bộ Công Thương, cùng các tài liệu thống kê thương mại quốc tế từ năm 2000 đến năm 2012.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra khảo sát thực tế với cỡ mẫu gồm 250 doanh nghiệp dệt may đại diện trên phạm vi cả nước. Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu định mức kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo địa bàn địa lý tập trung tại các vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc như Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng và phía Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, đồng thời phân tầng theo quy mô vốn và hình thức sở hữu doanh nghiệp. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích chỉ số kinh tế kỹ thuật kết hợp thống kê mô tả và phân tích so sánh tỷ số là bởi phương pháp này cho phép lượng hóa chính xác tỷ lệ giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất (VA/GO) và tỷ lệ chi phí nguyên phụ liệu nhập khẩu trên giá trị sản xuất. Cách tiếp cận định lượng này phản ánh trung thực mức độ tự chủ nguyên liệu và vị thế cụ thể của doanh nghiệp trên từng phân khúc của chuỗi giá trị toàn cầu, khắc phục hoàn toàn tính chủ quan của các đánh giá định tính thuần túy.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu phương thức sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam còn mất cân đối nghiêm trọng và lệch hẳn về các khâu tạo ra giá trị gia tăng thấp. Kết quả khảo sát cho thấy có đến hơn 70% doanh nghiệp vẫn đang hoạt động chủ yếu dưới hình thức gia công xuất khẩu (CMT). Ở phương thức này, doanh nghiệp chỉ nhận nguyên liệu do khách hàng nước ngoài chỉ định và thực hiện các thao tác cắt may đơn giản, khiến tỷ suất lợi nhuận thu về rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 5,1% đến 10% tổng giá trị đơn hàng. Trong khi đó, tỷ lệ các doanh nghiệp đủ năng lực thực hiện phương thức xuất khẩu trực tiếp FOB cấp cao chỉ đạt khoảng 20% đến 25%, và số lượng doanh nghiệp tự chủ thiết kế ODM hoặc xây dựng thương hiệu OBM chỉ chiếm dưới 5% toàn ngành.

Thứ hai, ngành dệt may trong nước chịu sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, tạo nên điểm nghẽn nghiêm trọng cho việc nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng. Mặc dù tỷ lệ nội địa hóa của ngành đã có bước tiến bộ khi tăng từ mức 18% vào năm 2005 lên 46% vào năm 2010, song thực tế các doanh nghiệp vẫn phải nhập khẩu từ 70% đến 80% nguyên phụ liệu, đặc biệt là vải cao cấp và các phụ liệu chuyên dụng từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan. Tình trạng cung ứng các loại phụ liệu may trong nước năm 2010 bộc lộ sự thiếu hụt trầm trọng: tỷ lệ đáp ứng nhu cầu mễ không dệt chỉ đạt khoảng 30% đến 35%, mễ dệt đạt dưới 25%, và phần lớn các loại khóa kéo cao cấp, băng dệt kỹ thuật đều phải nhập khẩu với chi phí vận chuyển và thuế quan phát sinh chiếm từ 12% đến 15% giá thành sản phẩm.

Thứ ba, năng lực nghiên cứu phát triển mẫu mã thiết kế và hoạt động marketing phân phối còn rất sơ khai. Hơn 80% doanh nghiệp được khảo sát không có bộ phận thiết kế mẫu mốt độc lập mà hoàn toàn phụ thuộc vào bản vẽ kỹ thuật do các nhà buôn hoặc nhà nhập khẩu trung gian cung cấp. Chi phí dành cho hoạt động nghiên cứu phát triển và tiếp thị quốc tế chỉ chiếm bình quân dưới 1,5% tổng doanh thu của doanh nghiệp. Hơn 90% sản lượng may mặc xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và Nhật Bản đều phải thông qua các văn phòng mua hàng trung gian của Hồng Kông, Đài Loan hoặc Hàn Quốc, làm giảm đi đáng kể tỷ suất lợi nhuận ròng của doanh nghiệp trong nước.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng giá trị gia tăng thấp xuất phát từ sự phát triển mất cân đối giữa ngành may và ngành dệt nhuộm hoàn tất. Do đặc thù ngành dệt nhuộm đòi hỏi suất đầu tư vốn rất lớn, thường cao gấp 5 đến 7 lần so với đầu tư xưởng may, cùng với các yêu cầu nghiêm ngặt về xử lý nước thải và bảo vệ môi trường, nên đa số doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa và nhỏ không đủ tiềm lực tài chính để tham gia. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực ngành dệt may Việt Nam dù có ưu thế về sự khéo léo, tính cần cù và khả năng tiếp thu nhanh các đơn hàng có độ tinh xảo cao, nhưng lại thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ kỹ sư công nghệ dệt nhuộm, chuyên gia thiết kế thời trang và nhân viên marketing quốc tế có trình độ ngoại ngữ và kỹ năng đàm phán thương mại chuyên nghiệp. Hiện nay, lao động phổ thông chưa qua đào tạo chính quy vẫn chiếm trên 75% lực lượng lao động tại các xưởng sản xuất.

Khi so sánh với bài học kinh nghiệm quốc tế, quá trình nâng cấp chuỗi giá trị của Việt Nam có sự tương đồng nhất định với giai đoạn đầu phát triển của Hàn Quốc trong thập niên 1970 và Trung Quốc trong giai đoạn 1980 - 1990. Tuy nhiên, Trung Quốc đã thành công vượt bậc nhờ sớm ban hành chính sách hoàn thuế gián tiếp lũy tiến và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp giảm xuống 10% đến 15% để thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào công nghiệp phụ trợ dệt sợi. Trong khi đó, Việt Nam chuyển đổi từ phương thức CMT sang FOB và ODM chậm hơn từ 5 đến 7 năm so với các đối thủ cùng khu vực. Những phát hiện và luận cứ này có thể được trình bày một cách trực quan thông qua biểu đồ hình cột biểu diễn tương quan giữa tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu và tỷ suất giá trị gia tăng (VA/GO) trong giai đoạn 2005 - 2012, kết hợp với bảng số liệu phân tích cơ cấu nguồn cung nguyên phụ liệu nhằm làm rõ mức độ phụ thuộc của từng nhóm sản phẩm chủ lực.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao toàn diện năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, hệ thống giải pháp đồng bộ cần được triển khai quyết liệt theo các định hướng hành động sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh đầu tư hiện đại hóa công nghệ sản xuất và mở rộng chuỗi cung ứng dọc khép kín. Các doanh nghiệp dệt may cần chủ động trích lập tối thiểu 15% đến 20% lợi nhuận sau thuế hàng năm để tái đầu tư vào hệ thống máy móc kéo sợi tự động hóa, dây chuyền dệt kim và công nghệ may chuyên dụng tiết kiệm năng lượng. Lộ trình thực hiện trong vòng 2 đến 3 năm tới nhằm mục tiêu cắt giảm từ 20% đến 25% chi phí vận hành và giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu.

Thứ hai, chuyển dịch mạnh mẽ mô hình kinh doanh từ gia công CMT sang sản xuất FOB chỉ định, FOB tự mua nguyên liệu và từng bước tiến tới ODM. Doanh nghiệp cần thành lập phòng nghiên cứu phát triển và thiết kế sản phẩm độc lập, tuyển dụng các nhà tạo mẫu chuyên nghiệp để chủ động chào hàng các bộ sưu tập thời trang theo mùa cho các đối tác quốc tế. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ trọng doanh thu từ các đơn hàng FOB và ODM lên đạt tối thiểu 55% đến 60% tổng kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn từ 3 đến 5 năm.

Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị chuỗi cung ứng quốc tế. Ban lãnh đạo doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ với các trường đại học chuyên ngành để tổ chức các khóa đào tạo nâng cao tay nghề, kỹ năng quản trị tinh gọn (Lean Manufacturing) và nghiệp vụ thương mại điện tử xuyên biên giới cho đội ngũ cán bộ quản lý. Mục tiêu cụ thể là cải thiện năng suất lao động toàn diện thêm 12% đến 15% mỗi năm, đồng thời giảm tỷ lệ sản phẩm lỗi hỏng xuống dưới mức 1,5% trong vòng 2 năm.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế chính sách và phát triển các khu công nghiệp dệt may phụ trợ tập trung. Bộ Công Thương, Bộ Tài chính và chính quyền các địa phương cần quy hoạch đồng bộ các cụm công nghiệp dệt nhuộm có khu xử lý chất thải tập trung đạt tiêu chuẩn quốc tế, ban hành chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức 10% trong vòng 15 năm cho các dự án sản xuất sợi, dệt và phụ liệu kỹ thuật cao. Lộ trình triển khai đồng loạt từ năm 2015 đến năm 2025 nhằm hỗ trợ toàn ngành nâng tỷ lệ nội địa hóa thực tế lên trên 60%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ này là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc dành cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Nhóm thứ nhất là ban lãnh đạo, các nhà quản lý chiến lược và chuyên gia phát triển thị trường tại các doanh nghiệp dệt may trong nước. Luận văn cung cấp khung đo lường chi tiết về tỷ số giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất (VA/GO) cùng cẩm nang hướng dẫn các bước chuyển đổi cụ thể từ mô hình gia công CMT thuần túy sang các phương thức sản xuất trọn gói FOB và thiết kế mẫu ODM nhằm gia tăng biên lợi nhuận ròng.

Nhóm thứ hai là các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý nhà nước tại Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các cơ quan xúc tiến thương mại. Các dữ liệu định lượng về thực trạng nhập khẩu nguyên phụ liệu và các rào cản công nghiệp phụ trợ trong nghiên cứu là cơ sở thực chứng để xây dựng quy hoạch các cụm công nghiệp chuyên ngành và hoạch định chính sách ưu đãi thuế, tín dụng cho giai đoạn phát triển 2015 - 2025.

Nhóm thứ ba là giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản trị kinh doanh và Thương mại quốc tế. Công trình đóng vai trò là một tài liệu học thuật mẫu mực trong việc ứng dụng khung lý thuyết chuỗi giá trị của Michael Porter, Kaplinsky - Morris và Gary Gereffi vào giải quyết một bài toán kinh tế cụ thể của một ngành công nghiệp mũi nhọn.

Nhóm thứ tư là các tổ chức hiệp hội ngành hàng như Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) và các đối tác thương mại, nhà cung ứng quốc tế. Tài liệu giúp các tổ chức này nhận diện rõ các liên kết ngang và liên kết dọc trong ngành, từ đó nâng cao hiệu quả các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối các nhà sản xuất dệt may Việt Nam trực tiếp với mạng lưới phân phối toàn cầu.

Câu hỏi thường gặp

Một là, tại sao kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam duy trì mức tăng trưởng ấn tượng nhưng giá trị gia tăng thu về cho nền kinh tế lại ở mức thấp? Mặc dù kim ngạch xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm trong giai đoạn 2000 - 2012, phần lớn giá trị gia tăng nằm ở khâu thiết kế mẫu và phân phối tiếp thị. Hơn 70% doanh nghiệp Việt Nam chỉ tham gia khâu gia công cắt may (CMT) và phải nhập khẩu từ 70% đến 80% nguyên phụ liệu đầu vào, khiến tỷ suất giá trị gia tăng thực tế chỉ chiếm khoảng 20% kim ngạch.

Hai là, theo mô hình chuỗi giá trị toàn cầu, những khâu nào mang lại tỷ suất lợi nhuận cao nhất cho ngành dệt may? Theo mô hình đường cong nụ cười và phân tích chuỗi giá trị định hướng người mua, hai khâu mang lại tỷ suất lợi nhuận cao nhất là khâu nghiên cứu thiết kế sản phẩm ban đầu và khâu marketing phân phối ở hạ nguồn, thường chiếm trên 45% tổng giá trị tạo ra. Ngược lại, khâu may ráp gia công chỉ đóng góp tỷ suất lợi nhuận khiêm tốn từ 5,1% đến 15%.

Ba là, tỷ lệ nội địa hóa của ngành dệt may Việt Nam đã có sự thay đổi như thế nào qua các giai đoạn khảo sát? Tỷ lệ nội địa hóa của ngành đã có sự bứt phá đáng kể, tăng từ mức 18% vào năm 2005 lên mức 46% vào năm 2010 và hướng đến mốc trên 50% trong giai đoạn sau năm 2013. Sự gia tăng này chủ yếu nhờ các dự án đầu tư mở rộng năng lực kéo sợi trong nước đạt quy mô hơn 2 triệu cọc sợi, dù khâu dệt nhuộm hoàn tất vẫn cần tiếp tục cải thiện.

Bốn là, ngành dệt may Việt Nam có thể rút ra những bài học kinh nghiệm then chốt nào từ Trung Quốc và Hàn Quốc? Việt Nam có thể học tập chính sách hoàn thuế xuất khẩu và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp xuống 10% đến 15% của Trung Quốc để phát triển công nghiệp phụ trợ dệt sợi. Đồng thời, bài học từ Hàn Quốc cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu thời trang gắn liền với quảng bá văn hóa và từng bước làm chủ khâu thiết kế mẫu mã cao cấp.

Năm là, chỉ số tỷ lệ giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất (VA/GO) có ý nghĩa như thế nào trong việc đánh giá doanh nghiệp dệt may? Chỉ số VA/GO là thước đo định lượng chuẩn xác phản ánh mức độ dịch chuyển của doanh nghiệp lên các nấc thang giá trị cao hơn trong chuỗi. Doanh nghiệp có chỉ số VA/GO vượt trên 35% chứng tỏ đã làm chủ được nguồn cung ứng nguyên liệu hoặc tự thiết kế mẫu mốt, giúp tiết kiệm chi phí trung gian và tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh so với các đơn vị thuần gia công.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi sau:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chuỗi giá trị toàn cầu định hướng người mua và các tiêu chí định lượng đo lường năng lực tham gia của doanh nghiệp dệt may.
  • Làm rõ thực trạng tăng trưởng xuất khẩu của dệt may Việt Nam giai đoạn 2000 - 2012 với mức tăng trưởng bình quân 20%/năm, khẳng định vị thế mũi nhọn chiếm gần 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
  • Bóc tách các nút thắt cố hữu của ngành, đặc biệt là sự phụ thuộc từ 70% đến 80% vào nguyên phụ liệu nhập khẩu và tình trạng hơn 70% doanh nghiệp chỉ dừng lại ở phương thức gia công cắt may đơn thuần.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế sâu sắc từ Hàn Quốc và Trung Quốc trong việc phát triển liên kết dọc, ưu đãi thuế công nghiệp phụ trợ và ứng dụng tiếp thị văn hóa.
  • Hoạch định hệ thống giải pháp 4 trọng điểm nhằm thúc đẩy chuyển dịch sang phương thức sản xuất FOB và ODM, nâng tỷ lệ nội địa hóa lên trên 50% và cải thiện năng suất lao động thêm 12% đến 15% mỗi năm.

Về lộ trình tiếp theo, các doanh nghiệp dệt may cần khẩn trương thực hiện kế hoạch tái cấu trúc sản xuất và đầu tư công nghệ trong giai đoạn 2015 - 2025 để tận dụng tối đa các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Độc giả quan tâm và các nhà nghiên cứu hãy cùng chia sẻ, tham khảo và ứng dụng các kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn quản trị và hoạch định chính sách nhằm nâng tầm vị thế dệt may Việt Nam trên trường quốc tế.