Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Lê Văn Cành có tiêu đề "Phát triển bền vững hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá của Việt Nam trong hội nhập quốc tế", chuyên ngành Kinh tế Chính trị (mã số: 9310102), được bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thăng và TS. Nguyễn Tiến Dũng.
Về tính cấp thiết, hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá là ngành hàng mang giá trị kép về mặt kinh tế và văn hóa - tinh thần. Tại Việt Nam, làng nghề mây tre lá chiếm 24% tổng số làng nghề tiểu thủ công nghiệp. Ngành hàng này có cơ chế hoạt động linh hoạt, sử dụng nhiều lao động thời vụ, chi phí tạo việc làm thấp và tận dụng tối đa nguồn lực tại chỗ: kết quả điều tra trong luận án ghi nhận 71,39% lao động được huy động tại địa phương, 24,11% từ các xã lân cận và chỉ có 4,5% từ các tỉnh, huyện khác; nhiều cơ sở quy mô hộ đóng góp trên 10 triệu đồng/năm tiền thuế vào ngân sách địa phương. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành đang đối mặt với nguy cơ thiếu bền vững do hai nguyên nhân cốt lõi:
- Tăng trưởng phụ thuộc chủ yếu vào khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và thâm dụng lao động giá rẻ, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường gia tăng tại các làng nghề chế biến và nảy sinh nhiều xung đột xã hội;
- Ngành tăng trưởng theo chiều rộng, giá trị gia tăng thấp, hiệu quả sử dụng nguồn lực hạn chế, thiếu các thương phẩm hiện đại kết hợp bản sắc văn hóa để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận phát triển bền vững ở quy mô quốc gia hoặc dừng lại ở một số khía cạnh đơn lẻ của làng nghề truyền thống, thiếu mô hình lý thuyết và bộ tiêu chí định lượng đánh giá tính bền vững ở cấp độ ngành hàng gắn kết chuỗi hoạt động từ đầu vào, sản xuất đến tiêu thụ trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án bao gồm:
- Phân tích, xây dựng khung phân tích và bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững cho ngành thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam, vận dụng nghiên cứu điển hình cho nhóm hàng mây tre lá;
- Làm rõ vai trò điều tiết của Nhà nước ảnh hưởng đến sự gắn kết của các trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường với từng công đoạn hoạt động đầu vào, sản xuất và đầu ra của ngành.
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể được xác định gồm 4 nội dung:
- Một là: Vận dụng lý thuyết phát triển bền vững cấp quốc gia và cấp ngành để xác định các nhân tố ảnh hưởng quá trình phát triển ngành hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam;
- Hai là: Xây dựng khung phân tích và bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững cho ngành hàng mây tre lá trên cơ sở phân tích mối tương quan giữa các trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường;
- Ba là: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết, tác động qua lại của ba trụ cột với từng công đoạn đầu vào - sản xuất - đầu ra;
- Bốn là: Gợi ý các chính sách điều tiết của Nhà nước hỗ trợ các chủ thể tham gia ngành phát triển bền vững.
Hệ thống 5 câu hỏi nghiên cứu của luận án được đánh số:
- Thứ nhất: Các nghiên cứu liên quan đã đề cập đến những nội dung gì của phát triển bền vững nói chung, phát triển bền vững hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá nói riêng cùng sự hội nhập quốc tế của mặt hàng này? Đâu là khoảng trống nghiên cứu?
- Thứ hai: Cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế ngành thủ công mỹ nghệ và mặt hàng mây tre lá là gì?
- Thứ ba: Phương pháp nghiên cứu vấn đề phát triển bền vững và hội nhập quốc tế ngành thủ công mỹ nghệ và mặt hàng mây tre lá là gì?
- Thứ tư: Thực trạng phát triển bền vững và hội nhập quốc tế ngành thủ công mỹ nghệ và mặt hàng mây tre lá thời gian qua diễn ra như thế nào?
- Thứ năm: Những giải pháp chủ yếu nào cần được thực thi để phát triển bền vững ngành thủ công mỹ nghệ và mặt hàng mây tre lá đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong thời gian tới?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn ảnh hưởng đến đánh giá phát triển hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá Việt Nam theo quan điểm phát triển bền vững; khách thể nghiên cứu là thực trạng các hoạt động đầu vào - sản xuất - đầu ra của ngành; các chủ thể nghiên cứu gồm nông dân khai thác/nuôi trồng, cơ sở/hộ chế biến, doanh nghiệp chế biến - xuất khẩu và cơ quan quản lý nhà nước điều tiết ngành.
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn ở cấp độ ngành hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam; thời gian nghiên cứu tập trung trong giai đoạn mở cửa và hội nhập quốc tế, trọng tâm khảo sát dữ liệu thực trạng giai đoạn 2012–2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã tổng quan hệ thống tài liệu nghiên cứu phong phú trong và ngoài nước, phân loại thành các nhóm chủ đề chính:
Nhóm nghiên cứu quốc tế:
- UNIDO (2013) với công trình "Greening Value Chains for Sustainable Handicrafts Production in Vietnam" phân tích chuỗi giá trị xanh từ khâu thu gom nguyên liệu đến xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại Việt Nam.
- Disaya Chudasri, Stuart Walker và Martyn Evans (IASDR 2013) nghiên cứu định hướng thiết kế đóng góp cho phát triển bền vững ngành thủ công mỹ nghệ miền Bắc Thái Lan, đề xuất 3 định hướng thiết kế: tái tạo, tái tạo - thích nghi và cải tiến.
- Các báo cáo về ngành thủ công mỹ nghệ Ấn Độ trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 chỉ ra thực trạng 93% lực lượng lao động hoạt động phân tán, thiếu kỹ năng và công nghệ.
- Koos Neefjes (UNDP Việt Nam, 2012) phân tích dữ liệu biến đổi khí hậu và thách thức đối với phát triển bền vững tại Việt Nam.
- Jennifer A. Elliott với giáo trình "An introduction to sustainable development" khái quát sự dịch chuyển mô hình phát triển toàn cầu.
- Matthias Finkbeiner, Erwin M. Schau, Annekatrin Lehmann và Marzia Traverso (2010) trên tạp chí Sustainability bàn về công cụ đánh giá vòng đời bền vững (LCSA).
- Anthony A. Kates và Thomas M. phân tích thái độ ứng xử toàn cầu đối với phát triển bền vững.
- A. Hezri (2004) trên Journal of Environmental Management phân tích hệ thống chỉ tiêu bền vững và tiến trình chính sách tại Malaysia.
Nhóm nghiên cứu trong nước:
- Về sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu: Phí Ngọc Tuyến (2013) nghiên cứu gốm Nam Bộ; Phạm Xuân Hậu và Trịnh Văn Anh (2012) về làng nghề gắn với du lịch; Viện Nghiên cứu và Phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam (2011) với đề án xuất khẩu thủ công mỹ nghệ 2011–2015; Nguyễn Hữu Khải và Đào Ngọc Tiến (2006) về thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ; Hoàng Văn Châu (2006) về làng nghề du lịch sinh thái Bắc Bộ; Trần Văn Chử (2005) về phát triển thị trường làng nghề Đồng bằng sông Hồng; Đoàn Thị Hồng Vân (2004) khảo sát 227 phiếu doanh nghiệp và điều tra du khách về xuất khẩu gốm sứ.
- Về làng nghề, môi trường và phát triển bền vững: Lê Trịnh Hải và cộng sự ứng dụng phương pháp Delphi chọn bộ chỉ số bền vững; Bạch Thị Lan Anh (2010) nghiên cứu phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; Hoàng Văn Luân (2010) về nguồn lực trí tuệ; Nguyễn Sở Hữu (2007) về phát triển kinh tế bền vững; Đặng Kim Chi (2005) với chuyên khảo "Làng nghề Việt Nam và môi trường"; Viện Môi trường và Phát triển bền vững (2003) xây dựng tiêu chí cấp quốc gia; JICA và Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (2002) lập bản đồ quy hoạch ngành nghề thủ công; Vũ Từ Trang (2001) và Bùi Văn Lượng (2002) về lịch sử làng nghề; Lưu Đức Hải và cs (2000) về quản lý môi trường; Nguyễn Thị Thanh Mai (2016) về FDI và phát triển bền vững.
- Về phát triển bền vững ngành: Phan Văn Đàn (2016) xác định 9 yếu tố tác động đến doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu; Nguyễn Văn Hiếu (2014) xây dựng mô hình phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản Bến Tre dựa trên cấu trúc hoạt động đầu vào - sản xuất - đầu ra và các trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:
- Thứ nhất, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về phát triển bền vững riêng cho ngành hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá gắn kết giữa giá trị kinh tế với bảo tồn văn hóa truyền thống.
- Thứ hai, các nghiên cứu trước chưa kết hợp cấu trúc chuỗi giá trị ba công đoạn (đầu vào - sản xuất - đầu ra) với ba trụ cột bền vững (kinh tế - xã hội - môi trường) dưới sự điều tiết của thể chế vĩ mô.
- Thứ ba, thiếu các phân tích thực chứng lượng hóa các mối quan hệ tương quan trong ngành mây tre lá giai đoạn hội nhập sâu rộng.
- Thứ tư, chưa có hệ thống chỉ tiêu đánh giá tính bền vững chuyên biệt và hệ thống giải pháp đồng bộ cho ngành hàng mây tre lá Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng góc tiếp cận Kinh tế Chính trị Mác - Lênin về phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất và vai trò của kinh tế tập thể (hợp tác xã kiểu mới) trong nông nghiệp, nông thôn. Về lý thuyết phát triển bền vững, tác giả tổng hợp các mô hình kinh điển:
- Mô hình phát triển bền vững yếu và bền vững mạnh của Herman Daly (1989);
- Mô hình tương tác ba hệ thống tự nhiên - kinh tế - xã hội của Jacobs và Sadler (1990);
- Mô hình ba cực của Mohan Munasinghe (1993);
- Mô hình phát triển bền vững ngành sản xuất của Rogall (2008) với ba lĩnh vực can thiệp: bảo tồn tài nguyên, thiết kế sản phẩm bền vững và xử lý chất thải;
- Mô hình Lăng kính phát triển bền vững của Viện Wuppertal (Spangenberg và Bonniot, 1998; Valentin và Spangenberg, 1999) gồm 4 chiều: Kinh tế, Xã hội, Môi trường, Thể chế; mô hình lăng kính MAIN của Kain (2000); mô hình quả trứng của Prescott-Allen (1995); mô hình đánh giá tiến bộ của Hodge (1993, 1995);
- Khung Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam (Vietnam Agenda 21, 2004).
Khung phân tích của luận án kết hợp lát cắt không gian và lát cắt chuỗi hoạt động:
- Không gian ngành hàng mây tre lá có sự phân tách rõ rệt: Vùng nguyên liệu phân bố ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên; Vùng chế biến sản xuất tập trung tại các vùng đông dân, nhiều làng nghề (Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ); Vùng marketing và tiêu thụ đặt tại các đô thị lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng).
- Ma trận phân tích tích hợp 3 công đoạn chuỗi giá trị (Đầu vào khai thác/nuôi trồng – Sản xuất chế biến – Đầu ra phân phối/xuất khẩu) tương tác với 3 trụ cột phát triển bền vững (Kinh tế – Xã hội – Môi trường), chịu sự quản lý, định hướng từ trụ cột Thể chế (hệ thống cơ chế, chính sách của Nhà nước).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận chung: Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích logic thống nhất với lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa khoa học, so sánh - đối chiếu, phân tích - tổng hợp và tiếp cận liên ngành.
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Phân tích văn bản pháp lý (Quyết định 11/2011/QĐ-TTg, Chỉ thị 13/CT-TTg, các nghị định ngành), quan sát thực địa tại các làng nghề truyền thống, thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu các nhà quản lý, chủ doanh nghiệp, nghệ nhân.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Thu thập dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2012–2018 từ Niên giám Thống kê, Tổng cục Hải quan, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Hiệp hội Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam (Vietcraft); tính toán thống kê mô tả, phân tích tương quan giữa sản lượng chế biến và sản lượng xuất khẩu; xây dựng và kiểm định tỷ số $k_1$ (tốc độ tăng sản lượng chế biến / tốc độ tăng năng suất khai thác - nuôi trồng) và tỷ số $k_2$ (tốc độ tăng thu nhập bình quân / tốc độ tăng diện tích vùng nguyên liệu).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học về phát triển bền vững hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá của Việt Nam trong hội nhập quốc tế
Chương này luận giải các vấn đề lý luận từ kinh tế chính trị và triết học đương đại, chỉ ra rằng khoa học phát triển đã dịch chuyển từ chỗ lấy của cải vật chất làm trung tâm sang lấy con người làm trung tâm, từ khai thác thiên nhiên sang bảo dưỡng thiên nhiên. Tác giả phân tích các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành thủ công mỹ nghệ mây tre lá:
- Khâu đầu vào: Phụ thuộc vào lâm sản ngoài gỗ (mây, song, tre, nứa, cói, lục bình), có nguy cơ cạn kiệt nếu khai thác tự nhiên không đi kèm nuôi trồng tái sinh;
- Khâu sản xuất chế biến: Sử dụng công nghệ thủ công truyền thống kết hợp bán cơ giới (chẻ nan, sấy lưu huỳnh, ngâm ủ chống mối mọt, sơn phủ), tổ chức sản xuất phân tán qua các cơ sở vệ tinh và hộ gia đình;
- Khâu đầu ra: Mạng lưới thương mại qua nhiều cấp trung gian (người thu gom, nhà bán buôn, doanh nghiệp xuất khẩu), phụ thuộc lớn vào mẫu mã và thị hiếu tiêu dùng quốc tế.
Tác giả phân tích kinh nghiệm quốc tế từ Trung Quốc (quy hoạch vùng nguyên liệu quy mô lớn, đầu tư công nghệ chế biến sâu và cơ giới hóa) và Thái Lan (tập trung vào thiết kế mẫu mã độc đáo mang tính bản địa, phát triển thương hiệu gắn với chương trình OTOP - Mỗi xã một sản phẩm). Từ đó, chương 1 thiết lập khung phân tích đánh giá tính bền vững của ngành hàng thông qua ma trận tương tác giữa chuỗi hoạt động và các trụ cột bền vững.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu phát triển bền vững hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá của Việt Nam trong hội nhập quốc tế
Chương 2 cụ thể hóa quy trình nghiên cứu gồm 4 bước: (1) Xác định vấn đề nghiên cứu và tổng quan cơ sở lý thuyết; (2) Xây dựng khung phân tích, hệ thống giả thuyết nghiên cứu và bộ chỉ tiêu đo lường; (3) Thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp; (4) Phân tích thực trạng, kiểm định mối tương quan giữa các trụ cột và đề xuất giải pháp.
Tác giả thiết lập bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững ngành hàng theo 4 nhóm:
- Nhóm chỉ tiêu kinh tế: Tăng trưởng sản lượng khai thác, sản lượng chế biến, kim ngạch xuất khẩu, giá trị gia tăng, năng suất lao động, khả năng tiếp cận vốn và thông tin thị trường;
- Nhóm chỉ tiêu xã hội: Tạo việc làm tại chỗ, tỷ lệ lao động thời vụ, thu nhập bình quân của người lao động làng nghề, bảo tồn bí quyết công nghệ và văn hóa truyền thống, an toàn vệ sinh lao động;
- Nhóm chỉ tiêu môi trường: Tỷ lệ suy giảm nguồn tài nguyên tự nhiên, khối lượng chất thải rắn, nồng độ khí thải (khí SO2 từ lò sấy lưu huỳnh), nước thải ngâm ủ nguyên liệu và sử dụng hóa chất bảo quản;
- Nhóm chỉ tiêu thể chế: Hiệu lực thực thi các chính sách tín dụng, đất đai quy hoạch làng nghề, quy chuẩn môi trường và chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể.
Chương 3: Thực trạng phát triển bền vững hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá của Việt Nam trong hội nhập quốc tế
Chương 3 trình bày các kết quả phân tích thực nghiệm dựa trên hệ thống số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát. Thực trạng ngành hàng được phản ánh qua các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế:
| Nhóm nội dung |
Dữ kiện và số liệu trích xuất từ luận án |
| Cơ cấu lao động và làng nghề |
Làng nghề mây tre lá chiếm 24% tổng số làng nghề tiểu thủ công nghiệp Việt Nam. Lao động tại chỗ chiếm 71,39%; lao động từ xã lân cận chiếm 24,11%; lao động ngoại tỉnh chỉ chiếm 4,5%. |
| Đặc điểm kinh doanh & vốn |
Các cơ sở sản xuất chủ yếu là hộ cá thể và doanh nghiệp nhỏ. Khả năng tiếp cận thông tin thị trường còn thấp (Bảng 3.1). Nguồn gốc vốn tự có chiếm tỷ trọng chi phối, vốn vay ngân hàng gặp nhiều rào cản thế chấp (Bảng 3.5). |
| Nguyên vật liệu & giá thành |
Tình trạng thiếu hụt nguyên liệu cục bộ dẫn đến tăng giá nguyên liệu đầu vào; nhiều cơ sở phải nhập khẩu mây tre thô từ các nước láng giềng (Bảng 3.6). Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành sản phẩm năm 2016 (Bảng 3.4). |
| Xuất khẩu & Thị trường |
Kim ngạch xuất khẩu mây tre lá có xu hướng tăng trưởng trong giai đoạn 2012–2018 (Biểu đồ 3.3). Thị trường xuất khẩu chủ lực gồm Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU), Nhật Bản (Bảng 3.7, Bảng 3.8). Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm đan lát thô và gia dụng, tỷ trọng sản phẩm mỹ nghệ cao cấp còn hạn chế (Biểu đồ 3.4). |
| Mối tương quan kinh tế |
Hệ số tương quan giữa sản lượng chế biến và sản lượng xuất khẩu cho thấy sự gắn kết chặt chẽ (Bảng 3.11). Tốc độ tăng trưởng năng suất khai thác chưa theo kịp tốc độ tăng sản lượng chế biến, dẫn đến nguy cơ khai thác quá mức (Bảng 3.14). |
| Vấn đề môi trường & xã hội |
Tốc độ gia tăng các chất phát thải từ hoạt động chế biến, ngâm ủ hóa chất, sấy lưu huỳnh diễn biến phức tạp (Biểu đồ 3.9). Tỷ số $k_1$ và $k_2$ phản ánh sự chênh lệch giữa tăng trưởng sản lượng chế biến so với bảo tồn tài nguyên và cải thiện thu nhập lao động. |
Tác giả đánh giá những bất cập lớn: (i) Tăng trưởng kinh tế của ngành thiếu ổn định, năng lực cạnh tranh quốc tế yếu hơn so với các đối thủ trong khu vực như Trung Quốc, Philippines, Indonesia (Bảng 3.9); (ii) Lao động có thu nhập bấp bênh, thiếu chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hộ lao động; (iii) Ô nhiễm môi trường không khí và nguồn nước tại các làng nghề chưa có hệ thống xử lý tập trung; (iv) Thể chế quản lý còn chồng chéo giữa các bộ ngành (Công Thương, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Tài nguyên & Môi trường), các chính sách ưu đãi quy định tại Quyết định số 11/2011/QĐ-TTg chưa được triển khai đồng bộ ở cấp địa phương.
Chương 4: Định hướng, mục tiêu và giải pháp phát triển bền vững hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá của Việt Nam trong hội nhập quốc tế
Chương 4 xác định các căn cứ định hướng từ chủ trương của Đảng và Nhà nước về công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 20/5/2019 về phát triển bền vững. Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp bảo đảm phát triển bền vững trên trụ cột kinh tế: Quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu mây tre tập trung, có chứng chỉ khai thác bền vững; hỗ trợ đầu tư công nghệ xử lý nguyên liệu bán tự động nhằm giảm hao hụt; đổi mới thiết kế mẫu mã theo thị hiếu thị trường xuất khẩu; xây dựng thương hiệu quốc gia cho sản phẩm mây tre lá Việt Nam;
- Nhóm giải pháp gắn kết phát triển ngành với giải quyết các vấn đề xã hội: Đào tạo nghề có chứng chỉ, nâng cao trình độ kỹ thuật và tư duy thẩm mỹ cho thợ thủ công; hoàn thiện chính sách tiền lương, bảo hiểm y tế, cải thiện môi trường làm việc nhằm giữ chân lao động trẻ;
- Nhóm giải pháp bảo vệ môi trường sinh thái: Chuyển giao công nghệ xử lý mốc, chống mối mọt thân thiện với môi trường, hạn chế tối đa việc đốt lưu huỳnh trực tiếp gây ô nhiễm không khí; xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải ngâm ủ tập trung tại các cụm công nghiệp làng nghề;
- Nhóm giải pháp về thể chế và chính sách Nhà nước: Rà soát, hoàn thiện khung pháp lý về quản lý làng nghề; đơn giản hóa thủ tục tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ các quỹ khuyến công; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy chuẩn môi trường;
- Giải pháp phát triển Hợp tác xã kiểu mới: Đổi mới mô hình hợp tác xã nông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp theo Luật Hợp tác xã năm 2012, đóng vai trò cầu nối liên kết hộ gia đình với doanh nghiệp xuất khẩu, cung ứng dịch vụ đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra.
Về khuyến nghị, luận án phân định hai cấp:
- Đối với Trung ương (Chính phủ và các Bộ ngành): Ban hành cơ chế phối hợp liên ngành thống nhất; hỗ trợ kinh phí xúc tiến thương mại quốc tế; thành lập trung tâm thiết kế mẫu mã quốc gia cho hàng thủ công mỹ nghệ;
- Đối với Hiệp hội ngành hàng (Vietcraft) và chính quyền các địa phương: Tăng cường liên kết vùng giữa địa phương có nguyên liệu và địa phương có làng nghề chế biến; tổ chức hội chợ chuyên ngành định kỳ; hướng dẫn các cơ sở sản xuất áp dụng quy trình sản xuất sạch hơn.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới của luận án được tác giả tự xác định bao gồm:
- Về mặt lý luận: Luận án đã hệ thống hóa và vận dụng lý thuyết phát triển bền vững với 3 trụ cột (kinh tế, xã hội, môi trường) để xây dựng khung phân tích riêng cho ngành hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá trong bối cảnh hội nhập quốc tế, tích hợp chuỗi hoạt động 3 công đoạn (đầu vào - sản xuất - đầu ra) dưới sự điều tiết của thể chế.
- Về mặt thực tiễn: Luận án đã phân tích toàn diện thực trạng phát triển bền vững của ngành hàng mây tre lá Việt Nam giai đoạn 2012–2018 trên cả 3 trụ cột; chỉ ra những mâu thuẫn nội tại giữa tăng trưởng quy mô xuất khẩu với suy kiệt tài nguyên rừng và ô nhiễm môi trường làng nghề; lượng hóa mối quan hệ giữa sản lượng chế biến, sản lượng xuất khẩu và thu nhập người lao động.
- Về mặt giải pháp: Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ và các kiến nghị cụ thể cho Trung ương, Hiệp hội ngành hàng và địa phương, trong đó nhấn mạnh vai trò của mô hình Hợp tác xã kiểu mới như một công cụ thể chế trọng tâm để tổ chức lại sản xuất ngành hàng mây tre lá theo hướng bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu xuất phát từ phạm vi và dữ liệu thực tế:
- Luận án tập trung chuyên sâu vào ngành hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá, chưa thể bao quát toàn diện các phân ngành thủ công mỹ nghệ khác như gốm sứ, sơn mài, dệt thêu hay chạm khắc gỗ;
- Do tính chất phân tán của các cơ sở sản xuất quy mô hộ gia đình tại các làng nghề nông thôn, hệ thống dữ liệu thống kê thứ cấp về môi trường (nồng độ khí thải, lưu lượng xả thải) còn thiếu đồng bộ, dẫn đến việc lượng hóa các chỉ tiêu sinh thái chủ yếu dựa trên các ước lượng tổng hợp và dữ liệu điều tra chọn mẫu;
- Các mô hình phân tích định lượng chủ yếu dừng lại ở phân tích thống kê mô tả, hệ số tương quan và so sánh tốc độ tăng trưởng (tỷ số $k_1, k_2$), chưa xây dựng mô hình hồi quy kinh tế lượng đa biến đánh giá tác động nhân quả dài hạn do hạn chế về chuỗi dữ liệu thời gian.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát so sánh đa ngành giữa mây tre lá với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu khác, hoặc cập nhật tác động thực tế của hiệp định EVFTA và CPTPP sau khi các cam kết thuế quan và quy chuẩn lao động, môi trường có hiệu lực đầy đủ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kinh tế Chính trị, Quản lý Kinh tế, Kinh tế Phát triển: Cung cấp khung phân tích lý thuyết liên ngành kết hợp giữa kinh tế chính trị, chuỗi giá trị và phát triển bền vững cấp độ ngành hàng;
- Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Công Thương các tỉnh): Sử dụng hệ thống chỉ tiêu và các phát hiện thực trạng để hoạch định chính sách quy hoạch vùng nguyên liệu mây tre, kiểm soát ô nhiễm làng nghề và hoàn thiện chính sách khuyến công;
- Hiệp hội ngành hàng, các hợp tác xã và doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu mây tre lá: Tham khảo các phân tích về cơ cấu giá thành sản phẩm, rào cản kỹ thuật của thị trường quốc tế và định hướng chuyển đổi sang chuỗi giá trị xanh.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định mô hình tổ chức không gian của ngành hàng mây tre lá Việt Nam có đặc điểm gì nổi bật?
Luận án chỉ rõ ngành hàng mây tre lá có sự phân tách không gian rõ rệt giữa ba khâu: khâu sản xuất nguyên liệu phân bố tại các tỉnh phát triển lâm nghiệp (miền núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên); khâu chế biến sản xuất tập trung ở các vùng đông dân, nhiều làng nghề và sẵn lao động tay nghề cao (Đồng bằng sông Hồng như Hà Nội, Hà Nam, Thái Bình; Duyên hải miền Trung; Đông Nam Bộ); khâu marketing và tiêu thụ đặt tại các đô thị, trung tâm thương mại lớn có cảng biển và hạ tầng xuất khẩu (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng).
2. Tại sao ngành mây tre lá Việt Nam có lợi thế về lao động nhưng lại đối mặt với nguy cơ phát triển thiếu bền vững?
Theo số liệu khảo sát của luận án, ngành huy động tới 71,39% lao động tại chỗ và 24,11% từ xã lân cận với chi phí đào tạo thấp. Tuy nhiên, tăng trưởng của ngành chủ yếu dựa vào thâm dụng lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thiên nhiên thô. Việc mở rộng quy mô sản xuất thiếu kiểm soát dẫn đến cạn kiệt nguyên liệu rừng, gia tăng phát thải độc hại từ công đoạn ngâm ủ hóa chất và sấy lưu huỳnh, đồng thời thu nhập thực tế của người lao động không tăng tương xứng với áp lực công việc.
3. Khung phân tích đề xuất của luận án kết hợp những chiều kích nào?
Khung phân tích của luận án kết hợp giữa chuỗi hoạt động 3 công đoạn (Đầu vào khai thác/nuôi trồng - Sản xuất chế biến - Đầu ra tiêu thụ/xuất khẩu) với 3 trụ cột phát triển bền vững (Kinh tế - Xã hội - Môi trường), đặt dưới sự điều tiết của nhân tố Thể chế (hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách quản lý nhà nước).
4. Hai tỷ số $k_1$ và $k_2$ trong luận án dùng để đo lường điều gì?
Tỷ số $k_1$ biểu thị mối quan hệ giữa tốc độ tăng sản lượng chế biến trên tốc độ tăng năng suất khai thác - nuôi trồng, dùng để đánh giá mức độ tương thích giữa năng lực chế biến với tính bền vững của nguồn nguyên liệu đầu vào. Tỷ số $k_2$ biểu thị mối quan hệ giữa tốc độ tăng thu nhập bình quân của người lao động trên tốc độ tăng diện tích khai thác - nuôi trồng nguyên liệu, phản ánh sự phân phối lợi ích kinh tế cho người lao động trong mối tương quan với mở rộng quy mô tài nguyên.
5. Luận án đề xuất giải pháp thể chế trọng tâm nào để tổ chức lại sản xuất của ngành?
Luận án đề xuất phát triển mô hình Hợp tác xã kiểu mới trong ngành thủ công mỹ nghệ mây tre lá theo Luật Hợp tác xã năm 2012. Mô hình này giúp tập hợp các hộ sản xuất cá thể nhỏ lẻ, liên kết với nghệ nhân và doanh nghiệp xuất khẩu để chủ động cung ứng nguyên liệu đạt chuẩn, áp dụng công nghệ xử lý môi trường tập trung và nâng cao năng lực đàm phán hợp đồng thương mại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Văn Cành đã hệ thống hóa cơ sở khoa học và xây dựng khung phân tích toàn diện về phát triển bền vững ngành hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Bằng việc kết hợp phương pháp luận kinh tế chính trị với chuỗi giá trị và các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đã làm rõ thực trạng mâu thuẫn giữa tăng trưởng xuất khẩu và áp lực sinh thái - xã hội tại các làng nghề giai đoạn 2012–2018. Hệ thống giải pháp đề xuất gắn liền với trụ cột thể chế và mô hình hợp tác xã kiểu mới mang lại giá trị khoa học và căn cứ thực tiễn cho công tác hoạch định chính sách phát triển bền vững ngành hàng tiểu thủ công nghiệp tại Việt Nam.