phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, danh mục và tài liệu tham khảo, luận án kết cấu gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu về phát triển bền vững du lịch Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững du lịch Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Thực trạng phát triển bền vững du lịch tỉnh Bắc Ninh Chƣơng 5: Giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững du lịch tỉnh Bắc Ninh 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững du lịch Tổng quan kết quả các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững du lịch trên thế giới và ở Việt Nam đã công bố, bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau và có thể đan xen nhau. Tổng hợp theo nội dung phát triển bền vững du lịch và tiếp cận của chuyên ngành quản lý kinh tế, có thể hệ thống các công trình nghiên cứu theo những nội dung sau đây: 1. Kết quả nghiên cứu về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên du lịch Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển bền vững du lịch.
Chƣơng trình Môi trƣờng Liên hợp Quốc (UNEP) và Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) cho rằng phát triển bền vững du lịch cần: 1) Sử dụng tối ƣu các nguồn tài nguyên môi trƣờng tạo thành một yếu tố quan trọng trong phát triển du lịch, duy trì môi trƣờng sinh thái cần thiết và bảo tồn các di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học. 2) Tôn trọng tính xác thực văn hóa - xã hội của cộng đồng tiếp nhận, bảo tồn văn hoá truyền thống, các di sản văn hóa và các giá trị truyền thống, và góp phần vào sự hiểu biết liên văn hóa. 3) Đảm bảo, hoạt động kinh tế trong dài hạn khả thi, cung cấp các lợi ích kinh tế - xã hội cho tất cả các bên liên quan đƣợc phân phối một cách công bằng. Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự tham gia chính thức của tất cả các bên liên quan, cũng nhƣ lãnh đạo chính trị địa phƣơng để đảm bảo sự tham gia sâu rộng và xây dựng sự đồng thuận [130].
Tác giả Hill (2011) Nghiên cứu về du lịch sinh thái bền vững ở khu vực Amazon Peru với chuyên đề sự kết hợp giữa du lịch, bảo tồn và phát triển cộng đồng: đã đề xuất những nguyên tắc chủ yếu để đạt đƣợc thành công trong quá trình phát triển du lịch sinh thái bền vững. Những nguyên tắc đó là: kết hợp giữa công việc du lịch và quản lý tài nguyên, các hoạt động du lịch không làm ảnh hƣởng tới môi trƣờng và hệ sinh thái. Tác giả đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa du lịch và bảo vệ rừng, bảo tồn hệ sinh thái, phát triển kinh tế xã hội cộng đồng địa phƣơng [124]. 7 * Tác giả Nguyễn Thị Thống Nhất (2014), đề tài luận án tiến sĩ kinh tế: Khai thác hợp lý các di sản văn hóa thế giới nhằm phát triển du lịch Miền Trung Việt Nam.
Tác giả đã đề cập về những vấn đề về di sản văn hóa thế giới và khai thác di sản văn hóa thế giới để phát triển du lịch bền vững. Tác giả đã đƣa ra các tiêu chí đánh giá khai thác hợp lý các di sản văn hóa thế giới để phát triển bền vững du lịch bao gồm: Khai thác đầy đủ di sản văn hóa thế giới; Khai thác di sản văn hóa thế giới phải luôn đi đôi với việc trùng tu, tôn tạo, bảo vệ các di tích và gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống, phát huy tính độc đáo của các di sản văn hóa thế giới [55]. * Tác giả Đinh Kiệm (2013), đề tài luận án tiến sĩ kinh tế: Phát triển du lịch sinh thái vùng Duyên Hải Cực Nam Trung bộ [40]. Tác giả đã đƣa ra quan niệm về du lịch sinh thái: là dạng du lịch bền vững tích cực, đây là loại hình du lịch chú trọng đến việc phát triển tình cảm và trách nhiệm của ngƣời tham gia đối với vẻ đẹp thiên nhiên hoặc giá trị văn hóa bản địa.
Tác giả đã đƣa ra 3 tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển của du lịch sinh thái bền vững là: tiêu chuẩn về kinh tế, tiêu chuẩn về xã hội, con ngƣời và tiêu chuẩn về môi trƣờng, 3 tiêu chuẩn đều có vai trò quan trọng nhƣ nhau trong tƣơng tác vận động giúp cân bằng phát triển du lịch sinh thái bền vững [40]. * Tác giả Nguyễn Đăng Tiến (2016), luận án tiến sĩ: Nghiên cứu, đánh giá tài nguyên du lịch và điều kiện sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch bền vững khu vực Quảng Ninh Hải phòng. Tác giả đã nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm về tài nguyên du lịch (TNDL) và điều kiện sinh khí hậu (SKH). Tác giả cũng đã xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn xác định tiềm năng, những nét đặc thù về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn để làm cơ sở đánh giá cho các loại hình du lịch và điểm du lịch.
Tiến hành đánh giá mức độ thuận lợi về TNDL và SKH cho phát triển du lịch bền vững ở một số khu du lịch và điểm du lịch trên khu vực Quảng Ninh - Hải Phòng [98]. * Tác giả Trịnh Quang Hảo (2004), Đề tài NCKH cấp Nhà nƣớc: Cơ sở khoa học cho các chính sách, giải pháp quản lý khai thác tài nguyên du lịch ở Việt Nam. 8 Tác giả đã nghiên cứu có hệ thống và tổng quan những vấn đề lý luận chung về tài nguyên du lịch, quản lý khai thác tài nguyên du lịch, phân loại tài nguyên du lịch, đánh giá quản lý và khai thác tài nguyên du lịch. Từ nghiên cứu thực tiễn quản lý khai thác tài nguyên du lịch ở một số nƣớc trong khu vực nhƣ Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Philipin, đề tài đã rút ra đƣợc 7 bài học kinh nghiệm trong quản lý khai thác bền vững tài nguyên du lịch, những bài học kinh nghiệm quản lý Nhà nƣớc.
Đề tài đã đề xuất một số chính sách và giải pháp nhằm tháo gỡ những bức xúc hiện nay trong quản lý khai thác tài nguyên du lịch ở Việt Nam [31]. Tổng hợp các công trình đã nghiên cứu về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên du lịch cho thấy các tác giả đã đƣa ra những khái niệm, nguyên tắc, tiêu chí đánh giá và đã đã đánh giá một số tài nguyên du lịch phổ biến, tuy vậy những tài nguyên mang tính lịch sử, hoặc tài nguyên phi vật thể mang tính nghệ thuật đặc thù nhƣ dân ca quan họ Bắc Ninh… thi chƣa đƣợc đề cập đến. Những nghiên cứu về phát triển địa phương du lịch bền vững Yi-fong, Chen (2012) trong nghiên cứu Du lịch sinh thái và phát triển xã hội ở địa phƣơng Taroko, cộng đồng ngƣời San-Chan, Đài Loan. Tác giả đã nghiên cứu sự tác động về mặt văn hóa xã hội của hoạt động du lịch sinh thái đƣợc xây dựng bảo tồn văn hóa, xã hội.
Tác giả nhận định rằng: các nhóm cộng đồng khác nhau sẽ hƣởng lợi, trách nhiệm và chịu tác động khác nhau từ việc phát triển du lịch. Phát triển du lịch ở Taroko có thể sẽ làm tính bất bình đẳng và khác biệt giữa các nhóm trong cộng đồng tăng cao. Vì vậy, khi xây dựng dự án du lịch trong các cộng đồng dân tộc khác nhau cần thiết phải am hiểu sâu sắc về các cộng đồng dân cƣ và mối quan hệ giữa các cộng đồng địa phƣơng với môi trƣờng và những vấn đề chính trị, kinh tế và văn hóa tồn tại giữa các cộng đồng, cũng nhƣ giữa cộng đồng và ban quản lý du lịch [131]. Tác giả Rebecca Sims (2008), Trên cơ sở số liệu nghiên cứu từ hai khu vực Vƣơng quốc Anh, Lake District và Exmoor.
Tác giả lập luận rằng: thực phẩm địa phƣơng có thể đóng một vai trò quan trọng trong kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững, vì nó phản ánh mong muốn của khách du lịch thƣởng thức trong kỳ nghỉ. Thực phẩm địa phƣơng có tiềm năng để nâng cao trải nghiệm của du khách bằng 9 việc kết nối với ngƣời tiêu dùng khu vực và nhận thức của nền văn hóa và di sản. Tác giả đã nhận xét: nỗ lực để cải thiện tính bền vững về kinh tế và môi trƣờng của cả du lịch và nông nghiệp có liên quan đến sự phát triển của mạng lƣới thực phẩm "thay thế" và sự tiêu thụ cho các sản phẩm về thực phẩm truyền thống địa phƣơng. Tác giả Greg Richards (2000), nghiên cứu du lịch và phát triển cộng đồng bền vững (Tourism and sustainable community development).
Nghiên cứu trƣờng hợp địa phƣơng phố cổ Edinburg, vùng nông thôn phía Bắc Bồ Đào Nha và các bãi biển của Inđônêsia. Tác giả đã có kết luận về lợi ích biện chứng tạo nên du lịch ngày càng phát triển và bền vững khi giải quyết đƣợc lợi ích cả hai phía, cộng đồng dân địa phƣơng nơi du lịch và ngƣời làm du lịch, từ đó khắc họa vai trò của các cộng đồng địa phƣơng trong phát triển du lịch bền vững và lợi ích mà du lịch bền vững mang lại cho họ [123]. Nghiên cứu Tiêu chí phát triển du lịch bền vững tại Đài Loan, tác giả Lee và Hsieh (2016) đã đề xuất 141 chỉ tiêu để đánh giá phát triển du lịch bền vững một địa phƣơng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra 141 chỉ tiêu quan trọng ở các mức độ phát triển du lịch bền vững.
Ở mức độ thứ nhất, khía cạnh tài chính và kinh doanh sẽ cần đƣợc quan tâm hơn khía cạnh môi trƣờng. Ở mức độ thứ hai, tác động của sự phát triển cộng đồng là yếu tố quan trọng nhất sau đó mới đến khía cạnh tài chính, kinh doanh. Dựa trên những kết quả phân tích, tác giả đã đề xuất một số giải pháp quản lý, trong đó có việc sử dụng thông tin để thúc đẩy sự tham gia của các bên liên quan và hợp tác, tập trung vào kế hoạch phát triển du lịch bền vững ở địa phƣơng và sử dụng các chỉ số để quản lý phát triển du lịch bền vững [126]. * Tác giả Phạm Ngọc Thắng (2015), luận án tiến sĩ: Phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo ở Lào Cai.
Tác giả đã nghiên cứu lý luận về các cách tiếp cận phát triển bền vững du lịch đối với ngƣời nghèo, điều kiện du lịch để giảm nghèo, bài học kinh nghiệm phát triển du lịch gắn với giảm nghèo ở một số nƣớc trên thế giới và một số địa phƣơng ở Việt Nam. Đánh giá thực trạng phát triển du lịch gắn với giảm nghèo bền vững ở tỉnh Lào Cai.