Đặt vấn đề, nêu lên tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, bối cảnh quản lý phát triển du lịch ở Cà Mau và vấn đề đặt ra mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn. Ch ơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề phát triển du lịch tỉnh Cà Mau theo hướng bền vững. Trong đó, đề cập đến một số khái niệm cơ bản; nghiên cứu chính sách quản lý về phát triển du lịch; khung phân tích năng lực cạnh tranh; đánh giá tiềm năng, hiện trạng và yêu cầu phát triển du lịch tỉnh Cà Mau theo hướng bền vững. Ch ơng 3: Đánh giá tiềm năng, hiện trạng của du lịch tỉnh Cà Mau; Vận dụng khung phân tích năng lực cạnh tranh để phân tích năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch Cà Mau.
5 Ch ơng 4: Tác giả đưa ra kết quả nghiên cứu và các khuyến nghị chính sách. Kết luận 6 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CÀ MAU THEO HƢỚNG BỀN VỮNG 2. Cơ sở lý luận chung 2. Khái niệm du lịch Hiện nay, tồn tại rất nhiều định nghĩa về du lịch, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận hay mục đích nghiên cứu và sau đây là một số định nghĩa được nhiều nghiên cứu sử dụng: - Tiếp cận từ góc độ du khách, theo Liệp hiệp quốc (1963): “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”. Luật Du lịch Việt Nam (2017) định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”. - Tiếp cận từ các bên có liên quan, Cotlman (1989) định nghĩa: Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón du khách.1: Mô hình bốn nhóm nhân tố du lịch Nhà cung ứng dịch vụ Du khách du lịch Chính quyền địa phương Dân sự sở tại nơi đón du khách Nguồn: Coltman, năm 1989 7 Theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2006): - Tiếp cận từ góc độ du khách: “Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú thường xuyên của cá thể, nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau, với mục đích hòa bình và hữu nghị. Với họ, du lịch như là một cơ hội để tìm kiếm những kinh nghiệm sống và sư thỏa mãn một số nhu cầu về vật chất và tinh thần của mình”.
- Tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch: “Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn, đáp ứng các nhu cầu của du khách. Các doanh nghiệp coi du lịch như là cơ hội để bán các sản phẩm mà họ sản xuất ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của du khách”. Nghĩa là, các doanh nghiệp du lịch không những phục vụ du khách thông qua các dịch vụ của họ, đồng thời họ cũng đang bán chính sản phẩm của doanh nghiệp để đạt được doanh thu và lợi nhuận. - Tiếp cận từ góc độ cơ quan quản lý: “Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn, đáp ứng các nhu cầu của người đi du lịch”.
Như vậy, mặc dù cách biểu đạt chưa thống nhất, nhưng tựu trung lại du lịch là tổng thể các mối quan hệ liên quan đến sự tham gia và lợi ích của nhiều bên (du khách; nhà cung cấp dịch vụ du lịch; dân cư sở tại; chính quyền địa phương sở tại và nhà nước) phát sinh trong cuộc hành trình và lưu trú của du khách ngoài nơi cứ trú thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ dưỡng, vv, trong một khoảng thời gian nhất định. Khái niệm khách du lịch Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm du khách. Các Tổ chức quốc tế như Tổ chức Liên hiệp các quốc gia - League of Nations, Tiểu ban các vấn đề kinh tế - xã hội trực thuộc Liên hiêp quốc và Hội đồng thống kê liên hiệp quốc. có nhiều định nghĩa khác nhau về khách du lịch nói chung, khách 8 du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa nói riêng.
Song xét một cách tổng quát thì đều có một số điểm chung nổi bậc như: - Khách du lịch phải là người khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình. - Khách du lịch có thể khởi hành với mọi mục đích khác nhau, loại trừ mục đích lao động để kiếm tiền ở nơi đến. - Thời gian lưu lại nơi đến ít nhất là 24 giờ, nhưng không được quá một năm. * Định nghĩa khách du lịch theo Luật Du lịch Việt Nam: - Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
- Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch. iểm ến du lịch Điểm đến du lịch có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của du lịch, vì thế từ rất lâu đã có những công trình nghiên cứu về điểm đến của du khách.
Theo Burkart & Medlik’s (1974) “Điểm đến du lịch là một khu vực địa lý được viếng thăm bởi du khách, nó có thể là một trung tâm khép kín, một ngôi làng, hay một thị trấn, hay một thành phố, một huyện hoặc một khu vực, một hòn đảo, một quốc gia hay một lục địa”. Mill & Morrison (1992) lại cho rằng “Điểm đến du lịch là nơi có sự kết hợp của các yếu tố phụ thuộc lẫn nhau. Các yếu tố phụ thuộc lẫn nhau, bởi vì để tạo ra một trải nghiệm kỳ nghỉ thỏa mãn cho du khách, tất cả các yếu tố phải có mặt. Điểm đến du lịch bao gồm: Điểm hấp dẫn - Trang thiết bị - Cơ sở hạ tầng - Giao thông vận tải - Khách sạn”.
9 Jensen, Hansen & Metz (1993) điểm đến du lịch là một khu vực địa lý, trong đó có cảnh quan và đặc điểm văn hóa và đó là ở vị trí để cung cấp một sản phẩm du lịch bao gồm sự liên kết của giao thông vận tải - nơi ăn nghỉ - thực phẩm và ít nhất một hoạt động nổi bật hoặc trải nghiệm. Theo Hu & Ritchie (1993) điểm đến du lịch như là một gói các cơ sở và dịch vụ du lịch, giống như bất kỳ sản phẩm tiêu dùng khác. Một điểm đến là nơi được kết hợp giữa cơ sở hạ tầng, kinh tế văn hóa – xã hội và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ du lịch cho du khách. Các điểm đến phải có khu vực vị trí xác định rõ, chẳng hạn như một quốc gia, một hòn đảo hoặc một thị trấn.
Bên cạnh đó là chính quyền phải tích cực và phối hợp các hoạt động tại điểm đến. Theo Lumsdon (1997) điểm đến du lịch được hiểu như là tổng hợp một số yếu tố, được kết hợp với nhau để thu hút du khách đến cho một kỳ nghỉ hoặc ghé thăm trong ngày cụ thể. Cụ thể là ông xác định 04 yếu tố cốt lõi của điểm đến: + Các yếu tố thu hút cốt lõi; + Môi trường được xây dựng ở dạng vật chất; + Các dịch vụ cung cấp hỗ trợ; + Yếu tố văn hóa - xã hội. Dưới góc độ chiến lược, Buhalis (2000) định nghĩa: Điểm đến du lịch là một khu vực địa lý xác định được du khách hiểu như một thực thể duy nhất, với một khuôn khổ chính trị và lập pháp cho việc lập kế hoạch tiếp thị du lịch điểm đến trong việc cung cấp một hỗn hợp sản phẩm du lịch và được gộp theo tên thương hiệu của điểm đến.
Tóm lại, điểm đến du lịch được xem như là tập hợp các tài nguyên tự nhiên, văn hóa, nghệ thuật. Mặt khác điểm đến còn là tổng thể của cấu trúc hạ tầng và thượng tầng. Điểm đến khác nhau có thể dựa trên nhiều thuộc tính khác nhau. Điểm đến rất quan trọng trong quá trình quyết định lựa chọn du lịch và tác động mạnh đến lòng trung thành của du khách.
Có thể nói rằng lòng trung 10 thành của du khách phụ thuộc khá nhiều vào điểm đến. Chính vì thế, sự hấp dẫn điểm đến là yếu tố quan trọng trong ngành du lịch. Khung phân tích năng lực cạnh tranh 2. Lý thuyết v năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được các cấp chính quyền quan tâm nhằm định vị năng lực nội tại của địa phương.
Trên cơ sở đó, các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra các quyết định nhằm đạt hiệu quả phát triển lợi thế của địa phương. Có nhiều lý thuyết về năng lực cạnh tranh trong khuôn khổ bài viết này tác giả sử dụng khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh quốc gia của Michael Porter (1990, 1998, 2008) và được điều chỉnh cho phân tích năng lực cạnh tranh cấp tỉnh bởi Vũ Thành Tự Anh (2012). Theo lý thuyết về năng lực cạnh tranh của Michael Porter, yếu tố duy nhất quyết định tới năng lực cạnh tranh là năng suất, trong đó năng suất được đo bằng giá trị gia tăng do một đơn vị lao động (hay một đơn vị vốn) tạo ra trong một đơn vị thời gian. Năng suất là nhân tố quyết định quan trọng nhất quyết định thu nhập và mức sống trong dài hạn.
Để tăng trưởng năng suất bền vững đòi hỏi nền kinh tế phải được liên tục nâng cấp (Michael Porter, 2008). Như vậy, yếu tố cốt lõi của năng lực cạnh tranh là năng suất và theo Michael Porter các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và tốc độ tăng trưởng năng suất gồm có ba nhóm: (1) các yếu tố tự nhiên của quốc gia; (2) các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp độ vĩ mô; (3) các yếu tố năng lực cạnh tranh cấp độ vi mô.