CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. Tổng quan về bảo hiểm xã hội a. Các khái niệm - Bảo hiểm : Theo Monique (2010): “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm.
Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”. Bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu và sự tồn tại của nó là tất yếu. Có nhiều khái niệm về BHXH do đó có nhiều cách tiếp cận BHXH khác nhau. Khái niệm được hiểu một cách chính xác nhất theo Tổ chức Lao động quốc tế - ILO (1999).
“BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội”. Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế 11 hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia”. - Khái niệm phí bảo hiểm xã hội: Theo Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến (1998): “Phí BHXH là khoản tiền đóng góp hàng tháng hoặc định kỳ của những người tham gia BHXH cho Quỹ bảo hiểm xã hội”. - Khái niệm trợ cấp bảo hiểm xã hội: Trợ cấp BHXH là khoản tiền từ Quỹ BHXH được cơ quan hay tổ chức BHXH chi trả cho người được BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm và có đủ điều kiện hưởng theo quy định của pháp luật BHXH.
Trợ cấp BHXH có nhiều loại như trợ cấp một lần, trợ cấp lần đầu, trợ cấp hàng tháng, trợ cấp ngắn hạn, trợ cấp dài hạn (Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến, 1998). - Khái niệm người lao động: Quy định tại Điều 6 Bộ Luật Lao động của Quốc hội (1994), “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động” b. Vai trò của bảo hiểm xã hội - Đối với cá nhân người lao động và gia đình + Thứ nhất, ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình. Khi tham gia BHXH, BHXH TN, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên, khi về già hết tuổi lao động hoặc phải ngừng làm việc 12 tạm thời.
Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn (Viet Nam Foundation, 2013) + Thứ hai, tạo được tâm lý yên tâm, tin tưởng. Khi đã tham gia BHXH tự nguyện góp phần nâng cao đời sống tinh thần đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho người lao động, đặc biệt khi về già (Viet Nam Foundation, 2013) - Đối với xã hội + Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa các bên. Nhà nước, người sử dụng lao động và NLĐ có mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH. Tuy nhiên mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau.
Người lao động tham gia BHXH, BHXH tự nguyện với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Người sử dụng lao động tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH. + Thứ hai, tạo điều kiện cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, động lực cần thiết để khắc phục những biến cố trong cuộc sống, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân - thiện - mỹ, nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng”.
BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội công bằng, văn minh. + Thứ ba, thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần tương thân tương ái. Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị 13 nhân bản của con người, tạo điều kiện cho xã hội phát triển lành mạnh và bền vững. + Thứ tư, thực hiện bình đẳng xã hội.
Trên giác độ xã hội, BHXH TN là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động. Trên giác độ kinh tế, BHXH TN là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng. Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội (Viet Nam Foundation, 2013). Khái niệm và đặc điểm của BHXH tự nguyện a.
Khái niệm Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội”. Đặc điểm Bảo hiểm xã hội tự nguyện với tư cách là tiểu hệ thống của hệ thống BHXH quốc gia, nên có những đặc điểm chung của BHXH. Ngoài ra, BHXH TN có những đặc điểm cơ bản như: Bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng như BHXH, dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm; Đòi hỏi tất cả mọi người tham gia và bao trùm bởi một hệ thống được quy định mà các mức đóng góp tạo nên một quỹ chung; Các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các sự cố, các “rủi ro xã hội” được bảo hiểm và đủ điều kiện để hưởng; Chi phí cho các chế độ được chi trả bởi nguồn quỹ BHXH tự nguyện; Nguồn quỹ được hình thành từ các mức đóng góp của người tham gia, trong BHXH TN chủ yếu là người lao động, với một phần hỗ trợ của nhà nước; Đòi hỏi tham gia tự nguyện nhưng dựa trên những mức phí xác định; Các mức đóng góp được đưa vào một quỹ BHXH TN và các chế độ 14 được chi trả từ đó; Phần “nhàn rỗi tương đối” của Quỹ được đầu tư để kiếm lợi nhuận; Các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các hồ sơ đóng góp không liên quan đến tài sản cũng như thu nhập của người hưởng BHXH TN; Các mức đóng góp và mức hưởng bằng một tỷ lệ với thu nhập (Trần Quang Hùng, 1993). Những quy định cơ bản về chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam Luật bảo hiểm xã hội được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 đã dành chương IV (từ Điều 69 đến điều 79) mục 2 chương VI (từ Điều 98 đến Điều 101) và một số điều khoản có liên quan để quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Những quy định này chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành chế độ BHXH TN chính thức ở nước ta (Chính phủ, 2006) a. Đối tượng áp dụng bảo hiểm xã hội tự nguyện Quy định tại Điều 2 và Điều 9 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ: Người tham gia BHXH TN là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc diện áp dụng của pháp luật về BHXH bắt buộc, bao gồm: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng; Cán bộ không chuyên trách cấp xã, ở thôn và tổ dân phố; Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, kể cả xã viên không hưởng tiền lương, tiền công trong các hợp tác xã, liên hợp hợp tác xã; Người lao động tự tạo việc làm; Người lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó chưa tham gia BHXH BB hoặc đã nhận BHXH một lần (Chính phủ, 2007). Quyền và trách nhiệm của người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện - Quyền của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện: 15 Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28/12/2007 của Chính phủ: Người tham gia BHXH TN có các quyền sau đây: Được cấp sổ bảo hiểm xã hội; Nhận lương hưu hoặc trợ cấp BHXH TN đầy đủ, kịp thời, thuận tiện theo quy định; Hưởng bảo hiểm y tế khi đang hưởng lương hưu; Yêu cầu tổ chức BHXH cung cấp thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ tục thực hiện BHXH; Khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước, cá nhân có thẩm quyền khi quyền lợi hợp pháp của mình bị vi phạm hoặc tổ chức, cá nhân thực hiện BHXH tự nguyện có hành vi vi phạm pháp luật về BHXH; Ủy quyền cho người khác nhận lương hưu và trợ cấp BHXH tự nguyện.