Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHẠT TIỀN VỚI TƢ CÁCH HÌNH PHẠT BỔ SUNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH VÀ VAI TRÒ CỦA HÌNH PHẠT BỔ SUNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm hình phạt bổ sung Hình phạt bổ sung và hình phạt, nhìn dưới góc độ triết học có mối quan hệ nội tại, tương tác với nhau. Đây là mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung, trong đó hình phạt bổ sung là cái riêng, còn hình phạt là cái chung.
Cái riêng là phạm trù được dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định. Còn cái chung là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không những có một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác [23, tr. Như vậy, phạm trù hình phạt bổ sung với tư cách là cái riêng bao giờ cũng được đặt trong phạm trù hình phạt với tư cách là cái chung. Chính vì lý lẽ đó muốn hiểu được khái niệm hình phạt bổ sung thì nhất thiết chúng ta phải nhận thức được khái niệm hình phạt.
Trong lịch sử nhân loại có những quan niệm khác nhau về bản chất và nội dung của hình phạt. Nhìn chung, các quan điểm đó có thể được chia thành hai loại: 1) Quan niệm thứ nhất coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù người phạm tội, lấy sự khắc nghiệt của hình phạt làm điều răn cho người phạm tội; 2) Quan niệm thứ hai coi hình phạt là công cụ pháp lý cần thiết để đấu tranh phòng, chống tội phạm, cải tạo giáo dục người phạm tội [16, tr. Về vấn đề này, trong cuốn sách chuyên khảo Những vấn đề lý luận và thực tiễn 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, PGS. Trịnh Quốc Toản đã tổng kết như sau: Quan điểm coi hình phạt là sự trả thù của Nhà nước dựa theo học thuyết trừng trị (Vergeltungstheorie) hay còn gọi là học thuyết hình phạt tuyệt đối (Absolute Straftheorie) do Immanuel Kant (1724-1804) và sau đó là Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) chủ trương.
Trong tác phẩm "Luân lý siêu hình", I. Kant cho rằng, sự bất công do hành vi của người phạm tội gây ra phải được đền bù bằng hình phạt, thông qua đó trật tự pháp luật bị xâm phạm được khôi phục. Việc áp dụng hình phạt nhằm bảo đảm công lý, công bằng. Kant đòi phải thực hiện nguyên tắc "ân oán ngang bằng": Đối với tội giết người phải tử hình, đối với tội hiếp dâm - cần thiến kẻ hiếp dâm, tội làm nhục - cần công khai hôn tay người bị làm nhục v.
Như vậy, cơ sở pháp lý và ý nghĩa của hình phạt theo học thuyết hình phạt tuyệt đối, chỉ nằm ở sự trừng trị, trả thù, có nghĩa là bằng việc áp dụng hình phạt, sự bất công mà người phạm tội đã có lỗi gây ra được đền bù công bằng. Người phạm tội là người làm điều ác, mang nợ đối với xã hội nên cần phải trả bằng hình phạt, họ là kẻ thù của xã hội chứ không phải là thành viên của xã hội. Vì vậy, hình phạt chỉ có mục đích tự thân trừng trị, trả thù, chứ tuyệt đối không có mục đích phòng ngừa tội phạm. Theo tiến trình phát triển của xã hội, bên cạnh các học thuyết trừng trị hay là học thuyết hình phạt tuyệt đối xuất hiện các học thuyết về phòng ngừa tội phạm hay còn gọi là học thuyết hình phạt tương đối (relative Straftheorien) do Cesare Beccaria (1738-1794) khởi xướng, sau đó là Jeremy Bentham (1748-1832), P.
Theo học thuyết này, hình phạt không hướng vào việc trả thù người phạm tội mà chỉ nhằm phòng ngừa tội phạm trong tương lai. Do không có học thuyết nào là phù hợp, vượt trội để biện minh cho sự tồn tại của hình phạt, nên có nhiều học giả đã hợp nhất hai loại học thuyết trên thành học thuyết liên hợp (Vereinigungstheorie), mà những người đại diện xuất sắc là A. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo học thuyết này, hình phạt không chỉ có mục đích trừng trị mà còn có mục đích phòng ngừa tội phạm [60, tr. Còn trong khoa học luật hình sự Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay có các quan điểm coi hình phạt hoặc là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm nhằm mục đích ngăn ngừa chung và ngăn ngừa riêng (Natasev A.); hoặc là sự trừng trị, tức là gây cho người có tội những sự đau đớn và những sự tước đoạt do luật định mà người đó phải chịu (Đementrev X.I); hoặc là một trong các biện pháp đấu tranh chống tội phạm mà nội dung của nó là kết hợp thuyết phục với cưỡng chế (Karpetx) [5, tr.
Theo Bộ luật hình sự Liên bang Nga được Hội đồng Liên bang Nga phê chuẩn ngày 05 tháng 6 năm 1996 quy định khái niệm hình phạt tại Điều 43 như sau: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước áp dụng theo phán quyết của Tòa án. Hình phạt được áp dụng đối với người bị coi là có lỗi trong hành vi phạm tội và được bộ luật hình sự này quy định bằng việc tước bỏ hoặc hạn chế các quyền tự do của người đó [64, tr. Còn trong khoa học luật hình sự Việt Nam, các học giả luôn đi theo tư tưởng tiến bộ, nhân đạo về hình phạt, nên đã đưa ra những quan niệm về hình phạt mà về cơ bản là thống nhất, mặc dù trong mỗi quan niệm đó có những sự khác nhau nhất định, chẳng hạn như: Theo GS. Lê Văn Cảm: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự" [2, tr.
Nguyễn Ngọc Hòa định nghĩa: 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất được quy định trong luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân [19, tr. Hay theo GS.TS Võ Khánh Vinh lại quan niệm: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất do luật quy định được Tòa án nhân dân nhân danh Nhà nước quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án [74, tr. Trịnh Quốc Toản trên cơ sở phân tích nhiều quan điểm khoa học và các đặc điểm cơ bản của hình phạt đã định nghĩa: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, được luật quy định, do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án và được thể hiện ở việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của họ nhằm giáo dục, cải tạo họ và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo cho luật hình sự thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ và đấu tranh phòng, chống tội phạm [59, tr. Trong pháp luật hình sự nước ta từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999, khái niệm hình phạt chưa được ghi nhận một cách chính thức ở bất kỳ một văn bản pháp luật nào, chỉ đến khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 thì khái niệm hình phạt lần đầu tiên mới được quy định tại Điều 26 Bộ luật hình sự: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.
Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định" [40]. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thật ra, cách diễn đạt của Điều 26 Bộ luật hình sự năm 1999 là chưa thật chính xác: "Hình phạt có nội dung pháp lý là tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội chứ không phải có mục đích nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp đó" [19, tr. Do vậy, từ "nhằm" trong Điều 26 là thừa. Tuy vậy việc xây dựng được một khái niệm pháp lý chính thức tương đối hoàn chỉnh, thể hiện khá đầy đủ nội dung, bản chất, đặc điểm của hình phạt dưới góc độ một chế tài hình sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn trong khoa học luật hình sự.
Từ khái niệm hình phạt, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về hình phạt bổ sung dựa trên những điểm chung giống hình phạt và những điểm riêng khác của hình phạt bổ sung. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, các học giả có quan điểm về hình phạt bổ sung như sau: GS. Võ Khánh Vinh định nghĩa: Hình phạt bổ sung là hình phạt được bổ sung thêm vào hình phạt chính và không được tuyên độc lập mà chỉ có thể tuyên kèm theo một hình phạt chính. Tùy theo từng trường hợp cụ thể của vụ án, kèm theo một hình phạt chính Tòa án có thể tuyên một hoặc vài hình phạt bổ sung [74, tr.
Theo quan điểm của PGS. Trịnh Quốc Toản thì: Hình phạt bổ sung là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước được luật quy định, do Tòa án áp dụng bổ sung cho hình phạt chính trong bản án kết tội đối với người bị kết án và được thể hiện ở việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích nhất định của họ nhằm củng cố, tăng cường hiệu quả của hình phạt chính và phòng ngừa tội phạm [60, tr. Uông Chu Lưu thì cho rằng: "Hình phạt bổ sung là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được quy định trong luật hình sự, do Tòa án áp dụng 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối với người phạm tội, phản ánh sự đánh giá của Nhà nước về hành vi phạm tội và người đã thực hiện hành vi đó" [27, tr.