Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Các hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam" (Chuyên ngành: Luật hình sự, Mã số: 62 38 40 01) do nghiên cứu sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa. Công trình tập trung nghiên cứu toàn diện chế định hình phạt bổ sung (HPBS) trong hệ thống pháp luật hình sự (PLHS) Việt Nam, kết hợp giữa phân tích lý luận lập pháp và đánh giá thực tiễn xét xử của tòa án các cấp.

Tính cấp thiết của đề tài

Tội phạm và hình phạt là hai chế định trung tâm, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ trong luật hình sự (LHS). Hình phạt và các HPBS vừa là nội dung, vừa là phương tiện thực thi chính sách hình sự (CSHS) của Nhà nước nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, đồng thời giáo dục ý thức tuân theo pháp luật và phòng ngừa tội phạm.

Mặc dù Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12 ngày 19/6/2009, các quy định về HPBS vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập:

  1. Hệ thống hình phạt (HTHP), trong đó có HPBS, chưa thực sự phong phú; các quy định về HPBS chưa bảo đảm tính toàn diện, thống nhất, đồng bộ trong nội tại cũng như giữa HPBS với hình phạt chính (HPC) và các chế định khác trong PLHS.
  2. Chưa có quy định rõ ràng, đồng bộ về việc áp dụng các chế định miễn, giảm HPBS, cũng như tổng hợp HPBS trong trường hợp khác loại.
  3. Không quy định hoặc quy định không đầy đủ, rõ ràng về nội dung, phạm vi và điều kiện áp dụng đối với mỗi loại HPBS.
  4. HPBS chưa được phân hóa cao đối với từng điều khoản về tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của BLHS.
  5. Nhiều quy định HPBS ở Phần các tội phạm không bảo đảm sự tương xứng giữa tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm với mức độ nghiêm khắc của chế tài, cũng như sự tương xứng giữa HPBS và HPC.
  6. Tồn tại mâu thuẫn, không thống nhất giữa một số quy định HPBS ở Phần các tội phạm với Phần chung của BLHS, cũng như giữa BLHS và Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS).
  7. Tỷ trọng các HPBS quy định trong Phần các tội phạm còn thấp, chưa tương xứng với vị trí, vai trò của loại chế tài này, đặc biệt là hình phạt tiền.

Song song với hạn chế lập pháp, thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp cũng bộc lộ các vấn đề tồn tại:

  1. Cường độ áp dụng HPBS của các tòa án còn thấp do chưa có sự quan tâm đúng mức.
  2. HPBS chỉ được áp dụng tập trung vào một số nhóm tội phạm nhất định.
  3. Tình trạng nhận thức và áp dụng chưa đúng quy định của luật: tội phạm có quy định HPBS bắt buộc nhưng tòa án không áp dụng; tội phạm không quy định HPBS nhưng tòa án lại tuyên áp dụng; bản án không nêu rõ hoặc áp dụng sai điều luật khi quyết định HPBS.
  4. Mức độ quyết định hình phạt có sự chênh lệch lớn (quá nặng hoặc quá nhẹ) giữa các vụ án có tính chất tương tự.

Yêu cầu nghiên cứu càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh toàn ngành tư pháp triển khai các định hướng cải cách theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25/04/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 (và 26/05/2005) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Phát triển các vấn đề lý luận về HPBS; phân tích các quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng; chỉ ra các hạn chế, bất cập; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng HPBS trong thực tiễn.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Làm rõ các vấn đề lý luận về hình phạt nói chung (khái niệm, đặc điểm, mục đích) và HPBS nói riêng (khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại, phân biệt với các biện pháp cưỡng chế hình sự khác); khái quát lịch sử hình thành và phát triển của chế định HPBS trong LHS Việt Nam từ năm 1945 đến trước BLHS năm 1999.
    2. Phân tích các quy định về HPBS trong PLHS hiện hành của Việt Nam trong sự so sánh với LHS một số quốc gia, phát hiện những vướng mắc và bất cập cần khắc phục.
    3. Đánh giá thực trạng áp dụng HPBS của tòa án các cấp, chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân; đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp sửa đổi luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng HPBS.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về HPBS trong luật hình sự Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào các quy định pháp luật thực định và hoạt động áp dụng HPBS trong giai đoạn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp. Luận án không bao gồm các vấn đề liên quan đến giai đoạn thi hành án hình sự đối với HPBS.
    • Về thời gian: Thu thập và xử lý số liệu thống kê thực tiễn áp dụng HPBS của các tòa án từ năm 1995 đến năm 2008 (trong đó phân tích sâu giai đoạn 2000 - 2008 sau khi BLHS năm 1999 có hiệu lực).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Qua khảo sát lịch sử nghiên cứu khoa học pháp lý trong nước và quốc tế, tác giả phân chia các công trình nghiên cứu liên quan thành 4 nhóm chính:

Nhóm công trình Tác giả, công trình tiêu biểu và năm công bố Đặc điểm và giới hạn tiếp cận
Sách chuyên khảo, tham khảo - Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (1994): Mô hình lý luận về Bộ luật hình sự Việt Nam (Phần chung); Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam; Những vấn đề lý luận của việc đổi mới pháp luật hình sự trong giai đoạn hiện nay.
- TS. Võ Khánh Vinh (1994): Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam.
- Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (1995): Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam (kết quả đề tài 91-98-050/ĐT), có bài viết của TS. Uông Chu Lưu.
- PGS. Nguyễn Ngọc Hòa (2001, 2005): Trách nhiệm hình sự và hình phạt; Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung).
Tập trung nghiên cứu sâu lý luận chung về hình phạt và HPC. Bài viết của TS. Uông Chu Lưu (1995) có đề cập HPBS nhưng dựa trên BLHS 1985 và số liệu thực tiễn năm 1990 của Tòa án Hà Nội và Tòa phúc thẩm TANDTC.
Giáo trình đại học - GS. Võ Khánh Vinh (Chủ biên, 2001): Giáo trình luật hình sự (Phần chung).
- PGS.TSKH Lê Văn Cảm (Chủ biên, 2005): Giáo trình luật hình sự (Phần chung).
- GS. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên, 2007): Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập 1.
Trình bày các vấn đề lý luận nền tảng được thừa nhận chung trong khoa học LHS, phục vụ giảng dạy, chưa đi sâu giải quyết chuyên biệt các bất cập của HPBS.
Luận văn, luận án - Nguyễn Văn Vĩnh (1996): Hệ thống hình phạt trong luật hình sự Việt Nam (Luận văn thạc sĩ).
- Vũ Lai Bằng (1997): Hình phạt tiền trong luật hình sự Việt Nam (Luận văn thạc sĩ).
- Đặng Đức Thạo (1998): Hệ thống hình phạt trong luật hình sự nước CHXHCN Việt Nam (Luận văn thạc sĩ).
- Nguyễn Sơn (2003): Các hình phạt chính trong luật hình sự Việt Nam (Luận án tiến sĩ).
- Phạm Văn Beo (2007): Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam (Luận án tiến sĩ).
Nghiên cứu diện rộng về HTHP hoặc chuyên sâu vào một loại HPC cụ thể (tử hình, phạt tiền là HPC), nội dung về HPBS chỉ được đề cập phụ trợ, thiếu tính hệ thống.
Bài báo tạp chí chuyên ngành - TS. Võ Khánh Vinh (1993, Tạp chí TAND số 6).
- TS. Trần Văn Độ (1990, Tạp chí TAND số 7): Một số ý kiến về quyết định hình phạt bổ sung.
- PGS. Nguyễn Ngọc Hòa (1999, Tạp chí Luật học số 1).
- TSKH. Lê Cảm (2000, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 8).
- TS. Nguyễn Mạnh Kháng (2000, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10).
- TS. Dương Tuyết Miên (2009, Tạp chí TAND số 4): Các hình phạt bổ sung trong Bộ luật hình sự năm 1999 và hướng hoàn thiện.
Đưa ra định nghĩa khoa học ban đầu hoặc phân tích điều kiện áp dụng một số HPBS đơn lẻ (cấm đảm nhiệm chức vụ, tước quyền công dân, phạt tiền), chưa nghiên cứu tổng thể toàn diện.

Về tài liệu quốc tế, các công trình khoa học hình sự tại Pháp và châu Âu tiêu biểu gồm: A. Vitu (1981), Georges Kellens (1991), B. Bouloc (1991), P. Poncela (1995), J. Pradel (1995), Gaston Stefani, Georges Levasseur và Bernard Bouloc (2000). Các công trình này chủ yếu phân tích lý luận hình phạt tổng thể hoặc một số HPBS trong luật so sánh, chưa có công trình nghiên cứu hệ thống về HPBS trong PLHS Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Luận án là công trình chuyên khảo cấp độ tiến sĩ luật học đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về chế định HPBS trong luật hình sự Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống về việc xác định mối quan hệ giữa hình phạt (cái chung) và HPBS (cái riêng); xây dựng định nghĩa khoa học và làm rõ các đặc điểm bản chất của HPBS; phân loại và phân biệt HPBS với các biện pháp cưỡng chế khác; hệ thống hóa lịch sử lập pháp từ 1945 đến trước BLHS 1999; đánh giá toàn diện các quy định BLHS 1999 và phân tích số liệu thống kê xét xử giai đoạn 1995 - 2008 của tòa án các cấp để đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và áp dụng thực tiễn.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và trường phái khoa học

  • Khung phân tích triết học: Vận dụng cặp phạm trù "cái chung và cái riêng" của triết học duy vật biện chứng. Hình phạt là phạm trù cái chung, bao hàm HPC và HPBS là những biểu hiện cái riêng; không có hình phạt trừu tượng tồn tại độc lập ngoài các HPC và HPBS cụ thể. Bản chất của hình phạt là sự thống nhất biện chứng giữa nội dung trừng trị và mục đích giáo dục, cải tạo.
  • Tổng quan các học thuyết hình phạt:
    • Học thuyết trừng trị (Vergeltungstheorie) / Học thuyết hình phạt tuyệt đối (Absolute Straftheorie): Tiêu biểu bởi Immanuel Kant (nguyên tắc "ân oán ngang bằng") và G.W.F. Hegel ("phủ định của phủ định", coi hình phạt là sự trả thù của nhà nước, phủ định tội phạm để khôi phục trật tự đạo đức, phủ nhận mục đích phòng ngừa). Quan điểm của các học giả như Haus, E. Ferri, P. Rossi cũng tiếp cận hình phạt dưới góc độ gây đau đớn, tổn hại thể chất hoặc tinh thần.
    • Học thuyết phòng ngừa / Học thuyết hình phạt tương đối (Relative Straftheorien): Đại diện bởi Cesare Beccaria và Jeremy Bentham, xác định hình phạt không nhằm mục đích trả thù mà hướng tới phòng ngừa tội phạm trong tương lai.
    • Học thuyết liên hợp (Vereinigungstheorie): Kết hợp giữa trừng trị và phòng ngừa tội phạm.
    • Trường phái luật hình sự Xô Viết và Việt Nam: Tiếp thu quan điểm của V.I. Lênin, các nhà khoa học Liên Xô (Natasev A., Đementrev X.I, Karpetx) và các nhà khoa học pháp lý Việt Nam (GS.TSKH Đào Trí Úc, GS. Nguyễn Ngọc Hòa, GS. Võ Khánh Vinh). Luận án khẳng định trừng trị là thuộc tính, là nội dung và phương tiện cưỡng chế tất yếu, không phải là mục đích của hình phạt; mục đích trực tiếp của hình phạt trong LHS Việt Nam là giáo dục, cải tạo người phạm tội và phòng ngừa tội phạm (phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung).

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và CSHS nêu tại các Văn kiện Đại hội VIII, IX, X, Nghị quyết 08-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp hệ thống hóa và logic pháp lý: Phân tích cấu trúc HTHP, tính liên kết giữa các điều khoản Phần chung và Phần các tội phạm.
    • Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu tiến trình phát triển của chế định HPBS qua các thời kỳ lập pháp (1945 - 1985, 1985 - 1999).
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm: Rà soát từng quy định về điều kiện, phạm vi áp dụng của từng HPBS cụ thể trong BLHS 1999.
    • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của PLHS Việt Nam với BLHS Liên bang Nga, BLHS Cộng hòa Pháp và một số quốc gia khác.
    • Phương pháp thống kê tội phạm học và điều tra xã hội học: Khảo sát, xử lý số liệu xét xử sơ thẩm thực tế của Tòa án nhân dân các cấp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Các sắc lệnh, sắc luật từ năm 1945, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), BLTTHS, các văn bản hướng dẫn áp dụng của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC).
  • Dữ liệu thống kê xét xử thực tiễn từ TANDTC và Tòa án địa phương giai đoạn 1995 - 2008, trong đó tập trung vào các bảng tổng hợp số liệu thực tế:
    • Bảng 3.1: Tỷ lệ bị cáo bị áp dụng HPBS trên tổng số bị cáo bị xét xử sơ thẩm (trang 137).
    • Bảng 3.2: Số liệu thống kê tình hình áp dụng HPBS của tòa án các cấp với các nhóm tội phạm từ năm 2000 đến 2008 (trang 140).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về hình phạt bổ sung

Chương 1 (từ trang 12 đến trang 72) tập trung làm sáng tỏ hệ thống lý luận cơ bản về hình phạt, chế định HPBS và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam:

  • Khái niệm và mục đích của hình phạt: Tác giả đưa ra định nghĩa khoa học: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của nhà nước, được luật quy định, do tòa án nhân danh nhà nước áp dụng đối với người phạm tội và được thể hiện ở việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của họ nhằm giáo dục, cải tạo họ và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo cho luật hình sự thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ và đấu tranh phòng, chống tội phạm. Phân tích sâu luận điểm khẳng định trừng trị không phải là mục đích của hình phạt mà là thuộc tính, nội dung trừng trị là phương tiện để đạt mục đích giáo dục, cải tạo và phòng ngừa. Tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 26 và Điều 27 BLHS năm 1999 nhằm khẳng định nguyên tắc nhân đạo: hình phạt không nhằm gây đau đớn về thể xác hay hạ thấp nhân phẩm con người.
  • Năm đặc điểm bản chất của HPBS:
    1. Không được áp dụng độc lập: HPBS không được quy định cho mọi tội phạm và không thể áp dụng độc lập, mà chỉ được áp dụng bổ sung kèm theo HPC nhằm củng cố, tăng cường hiệu quả xử lý. Người phạm tội không bị áp dụng HPC (được miễn hình phạt) thì không thể bị áp dụng HPBS.
    2. Không sắp xếp theo trật tự thang bậc cố định: Khác với HPC được xếp theo thứ tự nghiêm khắc từ nhẹ đến nặng (Khoản 1 Điều 28 BLHS 1999), các HPBS (Khoản 2 Điều 28) không thể xếp theo trật tự nặng - nhẹ do nội dung tác động hoàn toàn khác nhau, không có khả năng thay thế lẫn nhau theo Điều 47 BLHS.
    3. Không tước quyền tự do thân thể: HPBS không cách ly người bị kết án khỏi xã hội, giúp giảm chi phí giam giữ của ngân sách nhà nước, phát huy vai trò giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, đoàn thể và xã hội.
    4. Khả năng áp dụng đồng thời: Đối với một tội phạm cụ thể, tòa án chỉ được tuyên một HPC duy nhất nhưng có thể tuyên một hoặc nhiều HPBS kèm theo.
    5. Hình thức quy định đa dạng: HPBS được quy định dưới dạng bắt buộc áp dụng ("còn bị") hoặc tùy nghi áp dụng ("có thể bị"), tạo điều kiện cá thể hóa trách nhiệm hình sự.
  • Phân loại và phân biệt chế định: Phân biệt HPBS với các biện pháp tư pháp và biện pháp cưỡng chế hành chính.
  • Lịch sử phát triển chế định HPBS (1945 đến trước BLHS 1999): Khảo sát quá trình kế thừa và hoàn thiện các quy định HPBS từ các văn bản pháp luật thời kỳ kháng chiến đến BLHS đầu tiên năm 1985.

Chương 2: Các hình phạt bổ sung trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành

Chương 2 (từ trang 73 đến trang 133) đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định của BLHS năm 1999 đối với từng nhóm HPBS cụ thể:

  • Nhóm các hình phạt tước hoặc hạn chế quyền dân sự, chính trị (Mục 2.1, trang 73): Phân tích hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định (Điều 36 BLHS) và tước một số quyền công dân (Điều 39 BLHS). Đánh giá tính chất phòng ngừa các tội phạm liên quan đến chức vụ, nghề nghiệp và bảo đảm an ninh chính trị.
  • Nhóm các hình phạt hạn chế quyền tự do cư trú (Mục 2.2, trang 89): Phân tích nội dung, điều kiện áp dụng hình phạt cấm cư trú (Điều 37 BLHS), quản chế (Điều 38 BLHS) và trục xuất (Điều 32 BLHS). Làm rõ vai trò hạn chế quyền đi lại, cư trú nhằm cô lập môi trường hoạt động phạm tội của người bị kết án sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
  • Nhóm các hình phạt có tính chất kinh tế (Mục 2.3, trang 108): Phân tích hình phạt tiền với tư cách là HPBS (Điều 30 BLHS) và tịch thu tài sản (Điều 40 BLHS). Đánh giá tác động tước bỏ lợi ích vật chất, vô hiệu hóa động cơ vụ lợi của tội phạm kinh tế, tham nhũng, buôn lậu và ma túy. Phân tích các bất cập trong kỹ thuật lập pháp khi phân định ranh giới giữa phạt tiền là HPC và phạt tiền là HPBS.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt bổ sung

Chương 3 (từ trang 134 đến trang 207) đối chiếu quy định pháp luật với thực tế xét xử sơ thẩm và đưa ra các kiến nghị cải cách:

  • Thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án các cấp (Mục 3.1, trang 134):
    • Đánh giá tỷ lệ bị cáo bị áp dụng HPBS trên tổng số bị cáo bị xét xử sơ thẩm thông qua phân tích số liệu thống kê tại Bảng 3.1 (trang 137).
    • Phân tích cơ cấu áp dụng HPBS đối với từng nhóm tội phạm cụ thể giai đoạn 2000 - 2008 thông qua Bảng 3.2 (trang 140). Chỉ rõ thực trạng HPBS chủ yếu áp dụng cho nhóm tội phạm về ma túy, chức vụ, kinh tế, trong khi các nhóm tội khác bị bỏ trống hoặc áp dụng với tỷ lệ rất thấp.
  • Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế (Mục 3.2, trang 167):
    • Nguyên nhân từ pháp luật thực định: Quy định thiếu thống nhất giữa Phần chung và Phần các tội phạm; điều kiện áp dụng quy định chung chung; thiếu quy định về miễn, giảm và tổng hợp HPBS khác loại.
    • Nguyên nhân từ hướng dẫn áp dụng: Thiếu các văn bản giải thích pháp luật kịp thời và đồng bộ từ TANDTC và VKSNDTC.
    • Nguyên nhân từ chủ thể áp dụng: Trình độ nghiệp vụ, nhận thức pháp luật và trách nhiệm nghề nghiệp của một bộ phận thẩm phán còn hạn chế, dẫn đến việc xem nhẹ HPBS so với HPC.
  • Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả (Mục 3.3, trang 175):
    • Xác định các định hướng cải cách gắn với Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
    • Kiến nghị hoàn thiện kỹ thuật lập pháp trong BLHS: mở rộng phạm vi quy định HPBS tại Phần các tội phạm; hoàn thiện chế định miễn, giảm HPBS; bổ sung quy tắc tổng hợp HPBS khác loại; quy định rõ ràng tiêu chí áp dụng bắt buộc và tùy nghi.
    • Đề xuất các biện pháp nâng cao năng lực đội ngũ xét xử, tăng cường công tác thanh tra, giám đốc việc áp dụng HPBS trong các bản án hình sự.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ luật học về chế định HPBS trong luật hình sự Việt Nam.
  2. Xây dựng định nghĩa khoa học chuẩn xác về hình phạt và HPBS, làm rõ mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng trong HTHP.
  3. Luận chứng khoa học khẳng định trừng trị là thuộc tính/nội dung chứ không phải mục đích của hình phạt, từ đó đề xuất định hướng nhân đạo hóa khái niệm hình phạt tại Điều 26 và mục đích hình phạt tại Điều 27 BLHS năm 1999.
  4. Xác lập có hệ thống 5 đặc điểm bản chất của HPBS, chỉ rõ sự khác biệt mang tính nguyên tắc giữa HPBS và HPC (về tính độc lập, trật tự sắp xếp, khả năng thay thế theo Điều 47, tính chất không tước tự do và khả năng áp dụng đồng thời).
  5. Làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển lịch sử của chế định HPBS trong PLHS Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước thời điểm ban hành BLHS năm 1999.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị lập pháp

  1. Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng áp dụng HPBS của Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn 1995 - 2008 (đặc biệt qua số liệu thống kê tại Bảng 3.1 và Bảng 3.2 giai đoạn 2000 - 2008), chỉ rõ các sai sót điển hình trong thực tiễn xét xử.
  2. Đề xuất hệ thống các kiến nghị cụ thể sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999:
    • Sửa đổi quy định Phần chung: sửa Điều 26, Điều 27 về khái niệm và mục đích hình phạt; bổ sung quy định về miễn, giảm HPBS độc lập với HPC; bổ sung nguyên tắc tổng hợp HPBS khác loại.
    • Hoàn thiện Phần các tội phạm: tăng tỷ trọng quy định HPBS (đặc biệt là phạt tiền và tịch thu tài sản) trong các tội phạm kinh tế, chức vụ, môi trường; bảo đảm tính tương xứng giữa HPBS và HPC trong từng khung chế tài.
    • Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất giữa các cơ quan tư pháp trung ương (TANDTC, VKSNDTC).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi: Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu HPBS dưới góc độ lập pháp hình sự và giai đoạn xét xử của Tòa án; luận án chủ động loại trừ các vấn đề liên quan đến giai đoạn tổ chức thi hành án hình sự đối với HPBS.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế pháp lý và thực tiễn tổ chức thi hành các loại HPBS (quản chế, cấm cư trú, tước quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền) trong Luật Thi hành án hình sự và các văn bản liên quan.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và làm chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung BLHS và các văn bản quy phạm pháp luật hình sự trong tiến trình cải cách tư pháp.
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát): Cung cấp tài liệu nghiệp vụ giúp thẩm phán, kiểm sát viên nhận thức đúng đắn và áp dụng chính xác, thống nhất các quy định về HPBS, khắc phục tình trạng bỏ sót hoặc áp dụng sai chế tài.
  • Đối với nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Tư pháp hình sự, Luật hình sự tại các cơ sở đào tạo luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả luận án khẳng định trừng trị không phải là mục đích của hình phạt?

Theo luận án, trừng trị là thuộc tính bản chất, là nội dung cưỡng chế vốn có và là phương tiện bắt buộc của hình phạt để đạt được mục đích, chứ không phải là mục đích tự thân. Nếu coi trừng trị là mục đích sẽ dẫn đến tình trạng "trừng trị để trừng trị", biến hình phạt thành công cụ trả thù thuần túy, làm HTHP trở nên tàn khốc và trái với nguyên tắc nhân đạo của LHS hiện đại. Mục đích thực sự của hình phạt là giáo dục, cải tạo người phạm tội và phòng ngừa tội phạm (phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung).

2. Hình phạt bổ sung có những đặc điểm pháp lý nào khác biệt căn bản so với hình phạt chính?

Luận án xác định 5 đặc điểm riêng biệt của HPBS:

  1. Không được áp dụng độc lập đối với tội phạm cụ thể mà luôn phải tuyên kèm theo một HPC (khi được miễn HPC thì không áp dụng HPBS).
  2. Không sắp xếp theo thang bậc nghiêm khắc từ nhẹ đến nặng và không có khả năng thay thế cho nhau theo Điều 47 BLHS như HPC.
  3. Không tước quyền tự do thân thể của người bị kết án, giúp giảm thiểu chi phí giam giữ của nhà nước và gắn nghĩa vụ tự cải tạo với sự giám sát của cộng đồng.
  4. Tòa án có thể áp dụng đồng thời một hoặc nhiều HPBS kèm theo một HPC duy nhất cho một tội phạm.
  5. Được quy định dưới hai hình thức áp dụng: bắt buộc áp dụng ("còn bị") hoặc tùy nghi áp dụng ("có thể bị").

3. Phạm vi nghiên cứu thực tiễn của luận án được giới hạn trong khoảng thời gian nào?

Luận án nghiên cứu thực tiễn áp dụng HPBS của Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2008, trong đó phân tích chuyên sâu các dữ liệu thống kê xét xử từ năm 2000 đến 2008 (thời kỳ thi hành BLHS năm 1999) qua Bảng 3.1 và Bảng 3.2 của luận án.

4. Tác giả đã chỉ ra những tồn tại chủ yếu nào trong thực tiễn áp dụng HPBS của Tòa án các cấp?

Thực tiễn xét xử giai đoạn 1995 - 2008 bộc lộ 4 hạn chế chính:

  1. Tỷ lệ và cường độ áp dụng HPBS của các tòa án còn thấp do tâm lý xem nhẹ loại hình phạt này so với HPC.
  2. Áp dụng cục bộ, chủ yếu tập trung vào một số nhóm tội phạm nhất định (ma túy, chức vụ, kinh tế).
  3. Áp dụng sai quy định: không áp dụng khi luật quy định bắt buộc, tự ý áp dụng khi luật không quy định, hoặc viện dẫn sai điều luật áp dụng trong bản án.
  4. Mức hình phạt tuyên có sự chênh lệch lớn giữa các vụ án có tính chất và tình tiết tương tự nhau.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Các hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam" là công trình khoa học chuyên sâu, làm sáng tỏ toàn diện những vấn đề lý luận về chế định hình phạt bổ sung và khẳng định bản chất trừng trị là phương tiện phục vụ mục đích giáo dục, phòng ngừa tội phạm. Bằng việc phân tích thực trạng quy định trong BLHS năm 1999 và xử lý dữ liệu xét xử thực tế giai đoạn 1995 - 2008 của tòa án các cấp, luận án đã chỉ rõ các khoảng trống lập pháp và hạn chế thực tiễn. Hệ thống quan điểm và kiến nghị hoàn thiện pháp luật do luận án đề xuất có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công cuộc cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam.