Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích của hình phạt trong pháp luật hình sự 1. Khái niệm về hình phạt Hình phạt đã gắn liền với sự hình thành Nhà nước và Pháp luật từ thời cổ đại, cho đến ngày nay hình phạt được xem như là một trong những biện pháp quản lý xã hội bằng pháp luật rất hữu hiệu. Hình phạt thường được áp dụng cho những người phạm tội bị cấm mà theo theo khoa học hình sự hiện đại là gắn liền với tội phạm nhất định Theo Tự điển giải thích thuật ngữ luật học, Nhà xuất bản Công an nhân dân thì giải thích rằng: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước được Luật hình sự quy định và do toà án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội nhằm trừng trị giáo dục họ cũng như nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm”.64] Trên phương diện lịch sử PLHS của nước ta, khái niệm về hình phạt chỉ được chính thức quy định lần đầu tiên tại BLHS 1999.
Trước đó hầu hết các hình phạt cụ thể được phân bổ trong các quy định về tội phạm tại các văn bản riêng lẻ, các nhà lập pháp chưa có quy chuẩn hệ thống hình phạt mang tính khái quát khoa học. Ngay cả BLHS 1985 là BLHS đầu tiên cũng không nêu khái niệm hình phạt trong phần chung của BLHS. Theo Điều 26 BLHS 1999 quy định rằng: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án quyết định”.
Trải qua nhiều lần thay đổi bổ sung và thay thế, đến hiện nay khái niệm hình phạt trong BLHS 2015 xét về nội dung vẫn giữ lại các nội dung trước đó nhưng có bổ sung mở rộng thêm đối tượng áp dụng hình phạt đó là pháp nhân thương mại phạm tội (Điều 30 BLHS 2015). Một cách biểu thị khái quát, đầy đủ và cân bằng hơn sẽ là quan điểm của Giáo sư Võ Khánh Vinh trong tác phẩm Luật hình sự của mình có nêu “Hình phạt 8 là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất được Bộ luật hình sự quy định do Tòa án nhân dân nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích hợp pháp do luật quy định đối với người bị kế án” [66, tr.347], đây có thể được xem là khái niệm chứa đầy đủ nội hàm của của hình phạt nhất. Như vậy tác giả có thể khái quát một cách tổng quan để dễ nhận diện hơn, có thể đưa ra khái niệm hình phạt như sau: Hình phạt là một trong những công cụ bảo đảm và thể hiện các mức độ thi hành việc phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội phạm đã thực hiện (ở cả cá nhân và pháp nhân thương mại), nó hướng chính đến việc trực tiếp giáo dục cải tạo đối tượng phải chịu và gián tiếp phòng ngừa tội phạm để tái lập cân bằng trật tự xã hội khi xảy ra xáo trộn bởi hành vi phạm tội gây nên, thông qua việc Toà án áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhằm vào lợi ích, sự tự do và cả sự sống bằng các mức độ khác nhau. Đặc điểm của hình phạt Hình phạt trong PLHS có các đặc điểm chính sau: (1) Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước so với các biện pháp cưỡng chế khác như về hành chính hoặc kỷ luật.
(2) Hình phạt được quy định trong BLHS hay mang tính chất pháp định, tránh được sự suy đoán tùy tiện hoặc lạm dụng của Tòa án. (3) Hình phạt phải chỉ được áp dụng bởi Toà án nhân danh Nhà nước áp dụng. (4) Đối tượng chịu hình phạt là phải là đối tượng phạm tội, mang tính chất cá thể hóa trách nhiệm hình sự, không có sự thay thế khi áp dụng hình phạt.Mác viết rằng: “Dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi của chính người đó, do đó phải là hành vi của chính người đó” [7, tr. (6) Hình phạt phải đồng nhau nghĩa là sự công bằng giữa các đối tượng phạm tội, không phân biệt đối tượng, tuy nhiên đây chỉ là đặc tính tương đối, với một số đối tượng có những điều kiện nhất định thì hình phạt sẽ có tính chất tăng 9 nặng hoặc giảm nhẹ, nhưng sự gia giảm này cũng phải có quy định rõ ràng và điều kiện hết sức nghiêm ngặt.
(7) Hình phạt tạo nên án tích cho người chịu hình phạt, án tích này chỉ được xóa đi khi đảm bảo được một số điều kiện về thời gian và hành vi sau khi thụ lý hình phạt. Mục đích của hình phạt Mục đích của hình phạt có nhiều quan điểm, trước đây, các Nhà nước Phong kiến thực dân luôn xem mục đích hình phạt là sự trừng phạt đối tượng phạm tội, nó được xem là cái giá phải trả theo nguyên tắc cổ xưa là luật về sự trả thù ngang bằng (theo nguyên tắc lex talionis) thể hiện trong bộ luật cổ Hamurabi tại Babylon cổ đại, hay trong Kinh thánh Do Thái cũng có nhắc đến nguyên tắc “mắt đền mắt, răng đền răng” như câu ngạn ngữ nổi tiếng “an eye for an eye and a tooth for a tooth”, những nguyên tắc trả thù ngang bằng đã rất phổ biến thời cổ đại ăn sâu vào tiềm thức của các tầng lớp thống trị cũng như toàn xã hội thời đó. Tuy nhiên phong trào bảo vệ quyền con người cũng như các ngành khoa học xã hội đã phát triển, xã hội không còn quan niệm hình phạt có mục đích trừng phạt ngang hàng hoặc trừng phạt là yếu tố chính của hình phạt nữa, mà nó kèm theo rất nhiều mục đích nhân văn khác mang tính chất cải tạo người phạm tội và ngăn ngừa khả năng tội phạm diễn ra, nghĩa là quan điểm về việc phòng ngừa tội phạm được đề cao đó cũng được xem là nhiệm vụ của nhà nước và pháp luật đề ra vậy. Tuy còn nhiều tranh cãi giữa các quan điểm nhưng quan điểm được chấp nhận rộng rãi nhất là mục đích của hình phạt có 3 mục đích chính: “Một là giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; Hai là ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới (phòng ngừa riêng); Ba là phòng ngừa người khác phạm tội (Phòng ngừa chung)”.348] Quan điểm này được các làm luật Việt Nam thể hiện rõ trong quá trình xây dựng và quy định BLHS bắt đầu từ BLHS 1985 về nội dung mục đích hình phạt không có gì thay đổi.
10 Một số nhà nghiên cứu đã cho rằng nên loại trừ từ ngữ “không chỉ nhằm để trừng trị” trong điều luật đã quy định trong mục đích hình phạt nhằm tránh gây sự hiểu lầm về mục đích của hình phạt, vì rõ ràng xét theo ngôn từ nó thể hiện tính chất “trừng trị” vào mục đích đầu tiên, và nên xem mục đích của hình phạt thêm một sự trọng yếu nữa là “góp phần phục hồi lại công lý…”[8, tr.462], tuy nhiên qua các lần sửa đổi bổ sung BLHS và ban hành BLHS mới, các nhà làm luật vẫn giữ nguyên cấu trúc này cho đến ngày nay. Tuy thống nhất rằng Hình phạt không mang mục đích trừng trị nhưng không thể loại trừ được nó khỏi hình phạt, và các nhà lý luận cũng đáng cố gắng biện giải bằng cách này hay cách khác. Một số khác giải thích rằng vì chỉ nên coi “trừng trị” là thuộc tính vốn có trong bản chất của hình phạt chứ không nên xếp vào là mục đích của nó hướng đến. Cho đến lần sửa đổi cuối cùng là BLHS 2015 thì các nhà làm luật vẫn giữ nguyên quy định trong Điều 31 mục đích hình phạt là “hình phạt không chỉ nhằm trừng trị…”.
Tuy nhiên một cách tổng quan cũng cần phải xem xét toàn bộ lại lịch sử và văn hóa nước ta nói riêng và cả khu vực nói chung, đều ảnh hưởng rất lớn và lâu đời từ hai học thuyết lớn lớn về Nhân trị với đại diện là Khổng giáo của Khổng Tử và Pháp trị với đại diện là Quản Tử hay Thương Ưởng đề xuất từ thời Tần Hiếu Công sau này được phát triển bởi Hàn Phi Tử. Các triều đại lớn bên Trung Quốc thời Phong kiến cũng ảnh hưởng hai tư tưởng này rất nhiều. Chính hai quan điểm này đan xen và cùng nảy nở trong lòng xã hội, dẫn đến hình thành các quan điểm trái ngược cùng tồn tại hai mặt trong qua các thời kỳ trong xã hội ta, ngay cả trong cổ luật nước ta như các Bộ luật Hồng Đức thời nhà Lê và Hoàng Việt Luật Lệ thời nhà Nguyễn cũng có những điểm thể hiện sự trái ngược này. Vì thế cũng có thể giải thích phần nào do việc kế thừa truyền thống nên dẫn đến các nhà làm luật vẫn duy trì một cách thể hiện như điều luật trên đã nêu.
Phân chia hình phạt trong hệ thống hình phạt Để dễ dàng xắp xếp, phân loại cho các hoạt động nghiên cứu và đặc biệt cho việc soạn thảo cũng như áp dụng hình phạt trong BLHS, hình phạt ngày nay được chia ra thành một hệ thống chặt chẽ, có thứ tự theo sự nghiêm khắc từ thấp đến cao, 11 theo đó hệ thống cơ bản nhất ngày này đa số các nước áp dụng đó là: (1) Hình phạt không giam giữ: cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, phạt tiền, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, trục xuất; (2) Hình phạt giam giữ: TCTH và tù không thời hạn còn gọi là tù chung thân; (3) Hình phạt tử hình. Với cách phân loại khác mà các nhà nghiên cứu luật học trong giai đoạn 1963-1975 tại Sài Gòn Miền nam Việt Nam có nêu lên là có ba loại hình phạt chính gọi là chính hình: Một là Thể hình: Hình phạt duy nhất là hình phạt tử hình, đây là hình phạt duy nhất không thể sửa cũng không thể phân chia; Hai là Hình phạt bác đoạt tự do hay hạn chế tự do: Là hình phạt TCTH hoặc chung thân, khổ sai hữu hạn, cấm cố, cấm lưu trú, phạt giam…; Ba là Ngân hình (hình phạt vào tài sản): Phạt tiền hoặc tịch thu tài sản.