Chương 1: Cơ sở lí thuyết liên quan đến việc nghiên cứu phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán. Chương 2: Nhận diện hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp ở ba bình điện kết học - nghĩa học - dụng học. 13 Chương 3: Nghĩa hàm ẩn và cơ chế tao nghĩa hàm ngôn của phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán. Chương 4: Từ xưng hô và cách xưng hô của phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán.
Chương 5: Đặc trưng văn hoá dân tộc với ý nghĩa hàm ẩn của phát ngôn chứa hành động hồi trong giao tiếp mua bán. 14 CHUONG I: CƠ SỞ LÍ THUYET LIEN QUAN DEN VIỆC NGHIÊN CỨU PHÁT NGÔN CHỨA HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN 1. NHUNG CƠ SỞ Li THUYẾT CHUNG Ban thân hành động nói năng là đối tượng nghiên cứu rộng và phức tap. Nó gắn kết, đan xen theo hướng tích hợp rất nhiều vấn đề thuộc các chuyên ngành khác nhau của lí luận ngôn ngữ.
Để có thể lí giải được vấn để đã đặt ra từ chiều sâu, luận án bất đầu bằng quá trình xác lập một hệ các giới thuyết từ định hướng vận dụng các vấn để lí thuyết chung sau đây: 1. Vấn đề quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói E. Saussure đã khẳng định về sự tổn tại của ngôn ngữ và lời nói như là hai khái niệm đối lập nhau, dẫn đến sự đối lập giữa tính xã hội và tính cá nhân, giữa hệ thống ngôn ngữ ổn định - bất biến và hoạt động ngôn ngữ sinh động- da dang, giữa hệ thống ngón ngữ có tính xã hội, tính độc lập đối với tính cá nhân của /ời nói. của hoạt động ngôn ngữ.
Chúng tôi vận dụng vào nghiên cứu luận án về quan điểm mối quan hệ qua lại của NN và hoạt động NN:” NW là cần thiết để cho lời nói có thể hiểu được và tạo hiệu quả của nó, nhưng lời nói lại cần thiết để cho NN được xác lập. Về phương diện lịch sử, sự kiện của lời nói bao giờ cũng đi trước. Cuối cùng, chính lời nói làm cho NN biến hóa” (6T. Nhiều tác giả khác chú ý đến sự phân biệt giữa NN và lời nói, nhưng có nhiều người lại không tán đồng và cho rằng sự lưỡng phân đó là cực đoan.
Bên cạnh việc tiép thu quan điểm phân biệt NN và lời nói, chúng tôi không tán đồng ý kiến mà ông cho rằng, việc nghiên cứu hoạt động NN gắn với bộ phận chủ yếu với đối tượng là NN; bộ phận thứ yếu với đối tượng là phân cá nhân trong hoại động NN, nghĩa là lời nói. Vận dụng vào nghiên cứu đối tượng phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán, chúng tôi nhận thấy 15 rằng, thực ra, không thể đánh giá đâu là bộ phận chủ yếu, đâu là bộ phận thứ yếu được. Chúng tôi cho rằng, cả NN và hoạt động NN đều quan trọng như nhau, thậm chí, hoạt động NN mới là phần quan trọng nhất. bởi vì NN thực sự có giá trị khi tham gia vào hoạt động GT, lời nói luôn là phần hiện thực của NN, lời nói chính là nguồn gốc của tất cả cái chủ quan của con người, đi vào hệ thống khách quan của NN.
Như vậy, mọi sự vận động và phát triển của NN đều bắt nguồn từ lời nói, từ chính hoạt động NN rất động, rất phong phú và đa dạng. Chúng tôi cũng tán đồng Saussure khi ông cho rằng, trong hoạt động NN, trong bản thân của mỗi lời nói mang tính cá nhân, tính sáng tạo, tính uyển chuyển linh hoạt, tính" mới” déu được tạo nên từ chính chất liệu NN. Vậy, NN và lời nói là hai mặt của một bản thể, chúng có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, không tách rời. quy định lẫn nhau.
Ngữ dụng học là ngành học không chỉ nghiên cứu “/di øó?`, mà còn nghiên cứu sự hiểu biết NN (linguistic competence) và sự hiểu biết về dụng pháp (pragmatic competence). Vấn dé mau chốt được chứng minh qua luận án là: người bản ngữ không những biết những quy tắc sản sinh ra những câu đúng ngữ pháp, đúng nghĩa. mà còn biết sử dụng những quy tắc ấy như thế nào cho đúng lúc, đúng chỗ, đúng cương vi, đúng mục đích, có nghĩa là nhằm tác động đến người nghe một cách có hiệu quả nhất. Lí thuyết giao tiếp (GT ) Luận án luôn duy trì quan điểm đưa người nói và người nhận vào trung tâm của quá trình giao tiếp và hiểu biết.
Chính người nói đưa ra chủ để, nội dung. tiền giả định, hệ quy chiếu, cấu trúc thông tin.; và người nghe hiểu, giải mã và tự rút ra kết luận trong chính quá trình giao riếp. Chúng tôi nhìn vấn dé bằng cách rách nó ra khỏi những mối quan hệ, và ngược lại cũng nghiên cứu nó trong mốt quan hệ qua lại, quy định lẫn nhau. Như vậy, việc nghiên cứu HD nói gắn kết, dan xen tích hợp nhiều vấn để của chuyên ngành khác và không giới hạn miêu tả các hình thức ngôn 16 ngữ độc lập với mục đích hay chức năng, mà gắn lí thuyết giao tiếp vào hình thức, mục đích giao tiếp của ngôn ngữ.
Chúng tôi tán đồng và vận dụng lí thuyết giao tiếp các quan điểm sau: hoạt động giao tiếp bắt đầu được ngôn ngữ quan tâm nghiên cứu từ đầu thế kỉ XX. Bloomfield (1933) có lẽ là người đầu tiên phát hiện ra cơ chế ngôn giao. Jakobson (1960) cũng đưa ra các sơ đồ giao tiếp. Trong đó thể hiện rõ nhất là R.
Jakobson trong“Linguistics and Poetics * có sơ 46 giao tiếp gồm hai nhân vật: người phát, người nhận với sáu nhân tố: người phát, ngữ cảnh, thông điệp, tiếp xúc, ma, người nhận: và sáu chức năng: biểu cảm, hiệu lệnh, thi ca, quy chiếu, dua đẩy, siêu ngôn ngữ. Một số nhà ngôn ngữ chú ý chức năng liên giao, chức năng giao tiếp thông tin. Lyons cho rang, khái niệm GT dùng để chỉ tình cảm, trạng thái và thái độ. nhưng ông chỉ quan tâm đến việc chuyển giao các thông tin chứa mục dich có tính thực tế và tính phán đoán.
Nếu như nhà ngôn ngữ chú ý đến việc sử dụng ngôn ngữ để chuyển giao các thông tin có tính thực tế hay phán đoán, thì các nhà ngôn ngữ xã hội học lại chú ý đến chức năng liên nhân trong việc thiết lập và duy trì các quan hệ xã hội. tính vai vế, thể diện. luân phiên trong hội thoại. “Thue sự thì ai cũng biết rằng, mối quan hệ hằng ngày của con người phan lớn được mô tả qua việc sử dung NN có tính liên nhân hơn là tính liên giao” (194, tr1§].
Ví dụ như khi người bán gặp người quen ở chợ (không biết là có ý định mua hàng hay không), giữa lúc đang bán ế mà người bán xoay qua nói với người quen là:” Trời oi, lâu quá nghen, thằng bé dạo này lớn không?", thì khó mà cho rằng, ý đồ chính của người nói là'' chuyển giao thông tin”; mà có lí hơn phải là: người nói đang bất chuyện và gợi ý chào mời mua hàng. Vì vậy, chúng tôi nghiên 17 cứu hành động nói la quan tâm đến chức năng và mục dich, cách thức tao lập ma và lí giải, xử lí mã NN của PN gắn với yếu tố ngữ cảnh; nghĩa là nghiên cứu ngữ dụng học trên quan điểm động. Vận dụng định nghĩa của Morris vé dụng học là” mới quan hệ của kí hiệu đối với người sử dung”. Chúng tôi thực sự quan tâm đến điều người sử dung NN dang làm và giải thích những lớp nghĩa “mới”, đặc điểm NN trong HĐH như là phương tiện để thực hiện mục đích chính (hiển ngôn hay hàm ẩn) cái điều mà họ đang làm.
Chúng tôi cũng theo Đỗ Hữu Châu [38]. hoạt động giao tiếp, gồm: ngữ cảnh, có 3 nhân tố: nhân vật GT, nội dung GT, hoàn cảnh GT. Nunan (1997) đã gọi đây là ngữ cảnh ngoài NN. Nhân vật GT gồm người phat và người nhận : khi PN để thông báo, người phát buộc phải lựa chọn ND trước, sau đó lựa chọn cách thức thể hiện sao cho phù hợp.
Trong GT, người phát thường có số lượng là một, nhưng người nhận có thể là một, hoặc có thể là lớn hơn hai. Ở trường hợp là số đông, chúng ta can phân biệt người nhận đích thực và người nhận nói chung. Nội dung GT (hay thực tế được nói tới) là kết quả của sự lựa chọn về hiện thực được đưa vào nội dung thông điệp truyền đến người nhận, nhằm mục đích GT nào đó. Hoàn cảnh GT (với nghĩa rộng) bao gồm toàn bộ hoàn cảnh tự nhiên, xã hội, văn hóa của cộng đồng dân tộc mà các nhân vat GT đang có mặt, sẽ chi phối nội dung, hình thức của phát ngôn.
Chúng thường không tham gia trực tiếp vào GT mà chỉ tham gia dưới dạng kinh nghiệm, hiểu biết của vai tham gia GT. Vì vậy, có tác giả còn gọi là tiền giả định bách khoa. Với nghĩa hẹp, hoàn cảnh GT chỉ nơi chốn cụ thé, với những tình huống diễn ra cụ thé, đặc trưng cụ thé trong môi trường GT. Con người sẽ phải lựa chọn những thông điệp cụ thể sao cho phù hợp với hoàn cảnh GT và ngược lại đến lượt mình, hoàn cảnh GT sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến HT và ND của PN hay HD nói năng.
Thứ hai là đích GT:người GT luôn gắn phát ngôn với đích GT. 18 Dẫn theo [87], ta cần phân biệt dich GT sau: theo tinh chất dich gắn với thực tiền, ta có: đích thực tiễn, dich NN. Dich thực tiễn ở ngoài hoạt động của lời nói. Hành động lời nói dùng đích NN là phương tiện để đạt được mục đích thực tiễn và dựa vào nó dé !ựa chọn và kết hợp các yếu tố NN để tạo lập ra các PN có mục đích, dụng ngôn; Theo chức năng của đích, ta có: đích nhận thức, đích tác động.
Đích nhận thức của hành động nói là làm cho người nhận sau khi tiếp nhận nội dung của PN, sẽ trở nên có cùng nhận thức với người phát về hiện thực trong PN đã dé cập. Đích tác động của hành động nói là làm cho người nhận phải có biến đổi nhất định trong trạng thái tâm lí, tình cảm và sau đó, thực hiện sự lựa chọn để có hành động đáp ứng phù hợp với mong muốn của cả hai vai. Hành động nói không phải chỉ là dừng lại ở vấn dé truyền đạt thông tin mà để thực hiện đích GT. Dich thực tiễn thực chất là đích tác động, còn thực chất của đích NN là đích nhận thức.
Trên thực tế các loại mục đích này hoà quyện, tương tác lẫn nhau, cái này là chỗ dựa của cái kia, cùng nhau tổn tại.