PHÁT NGÔN CHỨA HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN BẰNG TIẾNG VIỆT

Luận án tiến sĩ về lý luận ngôn ngữ: Nghiên cứu phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán tiếng Việt. Tìm hiểu sâu về ngữ dụng học.

Chuyên ngành

Lí luận ngôn ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2007

221
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NGHIÊN CỨU PHÁT NGÔN CHỨA HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN

2. CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN HÀNH ĐỘNG HỎI TRỰC TIẾP VÀ HÀNH ĐỘNG HỎI GIÁN TIẾP Ở BA BÌNH ĐIỆN KẾT HỌC - NGHĨA HỌC - DỤNG HỌC

3. CHƯƠNG 3: NGHĨA HÀM ẨN VÀ CƠ CHẾ TẠO NGHĨA HÀM NGÔN CỦA PHÁT NGÔN CHỨA HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN

4. CHƯƠNG 4: TỪ XƯNG HÔ VÀ CÁCH XƯNG HÔ CỦA PHÁT NGÔN CHỨA HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Phát Ngôn Hỏi trong Giao Tiếp Mua Bán Việt

Nghiên cứu phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán tiếng Việt là một lĩnh vực quan trọng trong ngữ dụng học. Trong thực tế giao tiếp, hỏi là một dạng hành động ngôn ngữ phổ biến, tham gia vào cấu trúc hội thoại với tần số cao. Nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở dấu hiệu hình thức, mà còn đi sâu vào nội dung và nhận diện hiệu lực giao tiếp ở các cấp độ ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, thông qua bình diện ngữ nghĩa - ngữ dụng của hành động hỏi trực tiếpgián tiếp. Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển, giao tiếp mua bán là cầu nối quan trọng. Việc nghiên cứu ngôn ngữ giao tiếp mua bán là một yêu cầu thực tế cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Giao tiếp tiếng Việt nói chung và giao tiếp mua bán nói riêng là một vấn đề thiết yếu trong việc tiếp xúc, giao lưu văn hóa-xã hội-kinh tế.

1.1. Tại Sao Nghiên Cứu Ngữ Dụng Hành Động Hỏi Quan Trọng

Nghiên cứu hành động hỏi là cần thiết để nhận diện ngôn ngữ trong hành chức, với hiệu lực giao tiếp ở tầng bậc cao trong lí thuyết dụng học. Việc nghiên cứu hành động hỏi trước đây thường dừng lại ở dấu hiệu hình thức, có tính liệt kê, phân loại, xem xét ở bình diện tĩnh tại, tách rời ngữ cảnh. Luận án này nhằm lấp đầy các ô trống về mặt nội dung và nhận dạng hiệu lực giao tiếp ở các cấp độ ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, thông qua bình diện ngữ nghĩa - ngữ dụng của hành động hỏi trực tiếpgián tiếp.

1.2. Ảnh Hưởng của Văn Hóa Giao Tiếp Việt Nam đến Hành Động Hỏi

Văn hóa giao tiếp Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và diễn giải các hành động hỏi. Sự khác biệt về vai giao tiếp, quan hệ giao tiếpngữ cảnh giao tiếp ảnh hưởng đến cách phát ngôn hỏi được sử dụng và hiểu. Ví dụ, sự tính lịch sự trong giao tiếp có thể dẫn đến việc sử dụng lời nói gián tiếp thay vì lời nói trực tiếp khi đặt câu hỏi.

II. Vấn Đề Thiếu Nghiên Cứu Sâu về Hành Động Hỏi Trực Tiếp

Một trong những vấn đề là sự thiếu hụt các nghiên cứu chuyên sâu về cấu trúc lựa chọn của phát ngôn chứa hành động hỏi trực tiếpgián tiếp thuộc bình diện dụng học. Các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào hình thức, cấu trúc ngữ pháp của câu hỏi, chưa đi sâu vào ý nghĩa của hành động hỏi trong bối cảnh cụ thể. Vấn đề này vừa có tính kế thừa của những người đi trước, vừa là vấn đề có tính chất mới và nâng cao. Đồng thời, đối tượng của luận án là HĐH nên dĩ nhiên, phát ngôn hỏi- một phương tiện hình thức chủ yếu để chuyển tải nội dung của HĐH, chúng tôi không thể không nhắc đến.

2.1. Các Nghiên Cứu Trước Đây Về Phát Ngôn Hỏi Ưu Điểm và Hạn Chế

Các nhà Việt ngữ đã tìm hiểu kĩ về phát ngôn hỏi, nhiều vấn đề cơ bản cũng được đề cập và giải quyết ở những mức độ khác nhau như: khái niệm; phân loại câu nghi vấn; mối quan hệ giữa hỏi, trả lời trong cặp thoại. Một số tác giả nhận diện câu nghi vấn theo tiêu chuẩn mục đích nói hoặc dựa vào tiêu chí có dấu hiệu riêng của tình thái hỏi. Tuy nhiên, họ thường chỉ lấy bản thân các tiểu từ tình thái làm đối tượng nghiên cứu, chưa xét đầy đủ ở bình diện ngữ nghĩa- ngữ dụng, mặc dù chúng được nghiên cứu ở cả trạng thái tĩnh lẫn động.

2.2. Sự Cần Thiết Của Nghiên Cứu Ngữ Dụng Về Hành Động Hỏi

Các hướng nghiên cứu trước đây, trong một thời gian dài, đã đạt được thành tựu ở bình diện kết học, nghĩa học và một số vấn đề dụng học. Tất cả thành tựu đã đạt được của các nhà khoa học đi trước là tiền đề quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu một ô trống khác của câu hỏi và hành động hỏi thuộc bình diện ngữ dụng. Đó là nghiên cứu cấu trúc lựa chọn để tạo nghĩa, tạo hiệu lực giao tiếp với góc độ liên thông mới rộng mở về tầm nhìn khoa học.

III. Cách Nhận Diện Hành Động Hỏi Trực Tiếp và Gián Tiếp

Luận án phân biệt phát ngôn hỏihành động hỏi, cũng như hành động hỏi trực tiếpgián tiếp. Nghiên cứu hành động hỏi trong phát ngôn mở đầu đoạn thoại giao tiếp mua bán. Phân chia các tiểu loại hành động hỏi. Luận án nghiên cứu các bình diện kết học- nghĩa học- dụng học của phát ngôn chứa hành động hỏi trực tiếpgián tiếp. Nghiên cứu các nhân tố ngữ dụng thuộc cấu trúc thông báo, cấu trúc lựa chọn của phát ngôn chứa hành động hỏi trong mua bán thông qua hệ thống từ xưng hô; phương pháp lập luận; cơ chế tạo ý nghĩa hàm ẩn; các lược đồ đặc trưng văn hoá dân tộc.

3.1. Phân Tích Ngữ Nghĩa Ngữ Dụng Của Hành Động Hỏi Trực Tiếp

Việc phân tích ngữ nghĩangữ dụng của hành động hỏi trực tiếp tập trung vào ý nghĩa tường minh của câu hỏi và mục đích giao tiếp rõ ràng của người nói. Điều này bao gồm việc xác định mục đích của hỏi (ví dụ: thu thập thông tin, yêu cầu sự giúp đỡ) và các yếu tố ngôn ngữ thể hiện mục đích đó.

3.2. Giải Mã Ý Nghĩa Hàm Ẩn Trong Hành Động Hỏi Gián Tiếp

Hành động hỏi gián tiếp đòi hỏi người nghe phải suy luận và giải mã ý nghĩa hàm ẩn của câu hỏi. Điều này liên quan đến việc xem xét ngữ cảnh giao tiếp, kiến thức nền chung giữa người nói và người nghe, và các nguyên tắc giao tiếp như nguyên tắc hợp tác và nguyên tắc lịch sự.

3.3. Hệ Thống Từ Xưng Hô và Ảnh Hưởng Đến Hành Động Hỏi

Hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt, thể hiện quan hệ giao tiếpvai giao tiếp giữa người mua và người bán, có ảnh hưởng lớn đến cách thức sử dụng hành động hỏi. Ví dụ, cách xưng hô thể hiện sự tôn trọng và tính lịch sự trong giao tiếp có thể làm cho câu hỏi trở nên dễ chấp nhận hơn.

IV. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Giảng Dạy và Đàm Phán Hiệu Quả

Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong một số lĩnh vực: giảng dạy tiếng Việt với tính cách là tiếng mẹ đẻ và như một ngoại ngữ. Giảng dạy giao tiếp mua bán của chương trình hướng nghiệp cho học sinh, sinh viên, nhất là trường kinh tế, ngoại thương, quản trị kinh tế. Nâng cao kiến thức về nghệ thuật hỏi cho những người làm công tác xã hội thuộc các lĩnh vực như báo chí, truyền hình. Góp thêm tiếng nói cho giao tiếp đàm phán trong mua bán đối với người Việt và cả người nước ngoài; nhất là giúp họ sử dụng tốt các nhân tố ngữ dụng một cách phù hợp nhất trong hành động hỏi khi giao tiếp mua bán.

4.1. Nâng Cao Kỹ Năng Giao Tiếp Mua Bán Cho Sinh Viên

Nghiên cứu này có thể cung cấp cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho việc phát triển các chương trình đào tạo kỹ năng giao tiếp mua bán cho sinh viên, đặc biệt là sinh viên các trường kinh tế, ngoại thương và quản trị kinh doanh. Chương trình nên tập trung vào việc rèn luyện khả năng sử dụng hành động hỏi một cách hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể.

4.2. Phát Triển Kỹ Năng Đàm Phán Thương Mại Cho Doanh Nghiệp

Nghiên cứu này có thể giúp các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao kỹ năng đàm phán thương mại bằng cách cung cấp các chiến lược sử dụng hành động hỏi hiệu quả. Điều này bao gồm việc sử dụng hành động hỏi để thu thập thông tin, xây dựng mối quan hệ tin cậy với đối tác, và đạt được các thỏa thuận có lợi.

V. Chuẩn Ngôn Ngữ trong Giao Tiếp Mua Bán Góc Nhìn Ngữ Dụng

Chọn giải pháp tối ưu về vấn đề xây dựng chuẩn ngôn ngữ về cơ sở lí thuyết lẫn thực hành trong phạm vi mua bán của đời sống xã hội. Giúp ích cho việc hiểu, ứng xử ngôn ngữ lịch sự trong giao tiếp mua bán. Cung cấp thêm cứ liệu cho các lĩnh vực khác có liên quan: giáo dục học, tâm lí học, văn hóa học, kinh tế học, ngoại thương học; xây dựng hệ thống tàng trữ, xử lí thông tin tự động dưới dạng hỏi và trả lời, cải tiến công tác đàm phán thương mại, điều tra xét hỏi, rèn luyện khả năng tư duy logic học sinh.

5.1. Xây Dựng Chuẩn Ngôn Ngữ Phù Hợp Với Bối Cảnh Mua Bán

Việc xây dựng chuẩn ngôn ngữ trong giao tiếp mua bán cần xem xét các yếu tố ngữ dụng như tính lịch sự trong giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp, và vai giao tiếp. Chuẩn ngôn ngữ nên khuyến khích việc sử dụng các phát ngôn hỏi phù hợp với từng đối tượng và tình huống giao tiếp cụ thể.

5.2. Vận Dụng Nghiên Cứu Để Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

Luận án cũng góp phần giúp người đọc thấy rõ sự khác nhau của sắc thái hàm ẩn trong hành động hỏi thuộc môi trường mua bán trong đời sống hằng ngày, với sắc thái hàm ẩn trong văn bản nghệ thuật. Nó không phải là sản phẩm của quá trình tu từ theo hướng thẩm mĩ của thao tác tư duy hình tượng của ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật, mà thực chất là sự tạo nghĩa dụng học với các cung bậc tiền giả định khác nhau, theo sự tương tác giữa nguyên lí lịch sự, nguyên lí cộng tác, cùng với sự phá vỡ phương châm hội thoại về chất và về lượng riêng biệt, theo một chuẩn ngôn nel được lựa chọn để đạt mục đích giao tiếp mang tính đặc thù. Luận án đưa ra khung cơ bản để nâng hàm ngôn nghĩa học thành hàm ngôn dung học, qua đó.

VI. Tương Lai Nghiên Cứu Ứng Dụng AI vào Phân Tích Hành Động Hỏi

Trong tương lai, nghiên cứu về phát ngôn chứa hành động hỏi có thể được mở rộng bằng cách ứng dụng các công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI). AI có thể được sử dụng để phân tích lượng lớn dữ liệu giao tiếp mua bán và xác định các mô hình sử dụng hành động hỏi hiệu quả. Ngoài ra, AI có thể được sử dụng để phát triển các hệ thống giao tiếp tự động có khả năng sử dụng hành động hỏi một cách tự nhiên và hiệu quả.

6.1. Phát Triển Các Mô Hình AI Có Khả Năng Phân Tích Ngữ Dụng

Cần phát triển các mô hình AI có khả năng phân tích các yếu tố ngữ dụng của phát ngôn hỏi, bao gồm mục đích của hỏi, ý nghĩa hàm ẩn, và ngữ cảnh giao tiếp. Các mô hình này có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các phát ngôn hỏi và đề xuất các cách cải thiện.

6.2. Ứng Dụng AI Vào Đào Tạo Kỹ Năng Giao Tiếp Mua Bán

AI có thể được sử dụng để phát triển các công cụ hỗ trợ đào tạo kỹ năng giao tiếp mua bán. Các công cụ này có thể cung cấp phản hồi cá nhân hóa cho người học về cách sử dụng hành động hỏi một cách hiệu quả và giúp họ cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình.

13/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí thuyết liên quan đến việc nghiên cứu phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán. Chương 2: Nhận diện hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp ở ba bình điện kết học - nghĩa học - dụng học. 13 Chương 3: Nghĩa hàm ẩn và cơ chế tao nghĩa hàm ngôn của phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán. Chương 4: Từ xưng hô và cách xưng hô của phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán.

Chương 5: Đặc trưng văn hoá dân tộc với ý nghĩa hàm ẩn của phát ngôn chứa hành động hồi trong giao tiếp mua bán. 14 CHUONG I: CƠ SỞ LÍ THUYET LIEN QUAN DEN VIỆC NGHIÊN CỨU PHÁT NGÔN CHỨA HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN 1. NHUNG CƠ SỞ Li THUYẾT CHUNG Ban thân hành động nói năng là đối tượng nghiên cứu rộng và phức tap. Nó gắn kết, đan xen theo hướng tích hợp rất nhiều vấn đề thuộc các chuyên ngành khác nhau của lí luận ngôn ngữ.

Để có thể lí giải được vấn để đã đặt ra từ chiều sâu, luận án bất đầu bằng quá trình xác lập một hệ các giới thuyết từ định hướng vận dụng các vấn để lí thuyết chung sau đây: 1. Vấn đề quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói E. Saussure đã khẳng định về sự tổn tại của ngôn ngữ và lời nói như là hai khái niệm đối lập nhau, dẫn đến sự đối lập giữa tính xã hội và tính cá nhân, giữa hệ thống ngôn ngữ ổn định - bất biến và hoạt động ngôn ngữ sinh động- da dang, giữa hệ thống ngón ngữ có tính xã hội, tính độc lập đối với tính cá nhân của /ời nói. của hoạt động ngôn ngữ.

Chúng tôi vận dụng vào nghiên cứu luận án về quan điểm mối quan hệ qua lại của NN và hoạt động NN:” NW là cần thiết để cho lời nói có thể hiểu được và tạo hiệu quả của nó, nhưng lời nói lại cần thiết để cho NN được xác lập. Về phương diện lịch sử, sự kiện của lời nói bao giờ cũng đi trước. Cuối cùng, chính lời nói làm cho NN biến hóa” (6T. Nhiều tác giả khác chú ý đến sự phân biệt giữa NN và lời nói, nhưng có nhiều người lại không tán đồng và cho rằng sự lưỡng phân đó là cực đoan.

Bên cạnh việc tiép thu quan điểm phân biệt NN và lời nói, chúng tôi không tán đồng ý kiến mà ông cho rằng, việc nghiên cứu hoạt động NN gắn với bộ phận chủ yếu với đối tượng là NN; bộ phận thứ yếu với đối tượng là phân cá nhân trong hoại động NN, nghĩa là lời nói. Vận dụng vào nghiên cứu đối tượng phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán, chúng tôi nhận thấy 15 rằng, thực ra, không thể đánh giá đâu là bộ phận chủ yếu, đâu là bộ phận thứ yếu được. Chúng tôi cho rằng, cả NN và hoạt động NN đều quan trọng như nhau, thậm chí, hoạt động NN mới là phần quan trọng nhất. bởi vì NN thực sự có giá trị khi tham gia vào hoạt động GT, lời nói luôn là phần hiện thực của NN, lời nói chính là nguồn gốc của tất cả cái chủ quan của con người, đi vào hệ thống khách quan của NN.

Như vậy, mọi sự vận động và phát triển của NN đều bắt nguồn từ lời nói, từ chính hoạt động NN rất động, rất phong phú và đa dạng. Chúng tôi cũng tán đồng Saussure khi ông cho rằng, trong hoạt động NN, trong bản thân của mỗi lời nói mang tính cá nhân, tính sáng tạo, tính uyển chuyển linh hoạt, tính" mới” déu được tạo nên từ chính chất liệu NN. Vậy, NN và lời nói là hai mặt của một bản thể, chúng có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, không tách rời. quy định lẫn nhau.

Ngữ dụng học là ngành học không chỉ nghiên cứu “/di øó?`, mà còn nghiên cứu sự hiểu biết NN (linguistic competence) và sự hiểu biết về dụng pháp (pragmatic competence). Vấn dé mau chốt được chứng minh qua luận án là: người bản ngữ không những biết những quy tắc sản sinh ra những câu đúng ngữ pháp, đúng nghĩa. mà còn biết sử dụng những quy tắc ấy như thế nào cho đúng lúc, đúng chỗ, đúng cương vi, đúng mục đích, có nghĩa là nhằm tác động đến người nghe một cách có hiệu quả nhất. Lí thuyết giao tiếp (GT ) Luận án luôn duy trì quan điểm đưa người nói và người nhận vào trung tâm của quá trình giao tiếp và hiểu biết.

Chính người nói đưa ra chủ để, nội dung. tiền giả định, hệ quy chiếu, cấu trúc thông tin.; và người nghe hiểu, giải mã và tự rút ra kết luận trong chính quá trình giao riếp. Chúng tôi nhìn vấn dé bằng cách rách nó ra khỏi những mối quan hệ, và ngược lại cũng nghiên cứu nó trong mốt quan hệ qua lại, quy định lẫn nhau. Như vậy, việc nghiên cứu HD nói gắn kết, dan xen tích hợp nhiều vấn để của chuyên ngành khác và không giới hạn miêu tả các hình thức ngôn 16 ngữ độc lập với mục đích hay chức năng, mà gắn lí thuyết giao tiếp vào hình thức, mục đích giao tiếp của ngôn ngữ.

Chúng tôi tán đồng và vận dụng lí thuyết giao tiếp các quan điểm sau: hoạt động giao tiếp bắt đầu được ngôn ngữ quan tâm nghiên cứu từ đầu thế kỉ XX. Bloomfield (1933) có lẽ là người đầu tiên phát hiện ra cơ chế ngôn giao. Jakobson (1960) cũng đưa ra các sơ đồ giao tiếp. Trong đó thể hiện rõ nhất là R.

Jakobson trong“Linguistics and Poetics * có sơ 46 giao tiếp gồm hai nhân vật: người phát, người nhận với sáu nhân tố: người phát, ngữ cảnh, thông điệp, tiếp xúc, ma, người nhận: và sáu chức năng: biểu cảm, hiệu lệnh, thi ca, quy chiếu, dua đẩy, siêu ngôn ngữ. Một số nhà ngôn ngữ chú ý chức năng liên giao, chức năng giao tiếp thông tin. Lyons cho rang, khái niệm GT dùng để chỉ tình cảm, trạng thái và thái độ. nhưng ông chỉ quan tâm đến việc chuyển giao các thông tin chứa mục dich có tính thực tế và tính phán đoán.

Nếu như nhà ngôn ngữ chú ý đến việc sử dụng ngôn ngữ để chuyển giao các thông tin có tính thực tế hay phán đoán, thì các nhà ngôn ngữ xã hội học lại chú ý đến chức năng liên nhân trong việc thiết lập và duy trì các quan hệ xã hội. tính vai vế, thể diện. luân phiên trong hội thoại. “Thue sự thì ai cũng biết rằng, mối quan hệ hằng ngày của con người phan lớn được mô tả qua việc sử dung NN có tính liên nhân hơn là tính liên giao” (194, tr1§].

Ví dụ như khi người bán gặp người quen ở chợ (không biết là có ý định mua hàng hay không), giữa lúc đang bán ế mà người bán xoay qua nói với người quen là:” Trời oi, lâu quá nghen, thằng bé dạo này lớn không?", thì khó mà cho rằng, ý đồ chính của người nói là'' chuyển giao thông tin”; mà có lí hơn phải là: người nói đang bất chuyện và gợi ý chào mời mua hàng. Vì vậy, chúng tôi nghiên 17 cứu hành động nói la quan tâm đến chức năng và mục dich, cách thức tao lập ma và lí giải, xử lí mã NN của PN gắn với yếu tố ngữ cảnh; nghĩa là nghiên cứu ngữ dụng học trên quan điểm động. Vận dụng định nghĩa của Morris vé dụng học là” mới quan hệ của kí hiệu đối với người sử dung”. Chúng tôi thực sự quan tâm đến điều người sử dung NN dang làm và giải thích những lớp nghĩa “mới”, đặc điểm NN trong HĐH như là phương tiện để thực hiện mục đích chính (hiển ngôn hay hàm ẩn) cái điều mà họ đang làm.

Chúng tôi cũng theo Đỗ Hữu Châu [38]. hoạt động giao tiếp, gồm: ngữ cảnh, có 3 nhân tố: nhân vật GT, nội dung GT, hoàn cảnh GT. Nunan (1997) đã gọi đây là ngữ cảnh ngoài NN. Nhân vật GT gồm người phat và người nhận : khi PN để thông báo, người phát buộc phải lựa chọn ND trước, sau đó lựa chọn cách thức thể hiện sao cho phù hợp.

Trong GT, người phát thường có số lượng là một, nhưng người nhận có thể là một, hoặc có thể là lớn hơn hai. Ở trường hợp là số đông, chúng ta can phân biệt người nhận đích thực và người nhận nói chung. Nội dung GT (hay thực tế được nói tới) là kết quả của sự lựa chọn về hiện thực được đưa vào nội dung thông điệp truyền đến người nhận, nhằm mục đích GT nào đó. Hoàn cảnh GT (với nghĩa rộng) bao gồm toàn bộ hoàn cảnh tự nhiên, xã hội, văn hóa của cộng đồng dân tộc mà các nhân vat GT đang có mặt, sẽ chi phối nội dung, hình thức của phát ngôn.

Chúng thường không tham gia trực tiếp vào GT mà chỉ tham gia dưới dạng kinh nghiệm, hiểu biết của vai tham gia GT. Vì vậy, có tác giả còn gọi là tiền giả định bách khoa. Với nghĩa hẹp, hoàn cảnh GT chỉ nơi chốn cụ thé, với những tình huống diễn ra cụ thé, đặc trưng cụ thé trong môi trường GT. Con người sẽ phải lựa chọn những thông điệp cụ thể sao cho phù hợp với hoàn cảnh GT và ngược lại đến lượt mình, hoàn cảnh GT sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến HT và ND của PN hay HD nói năng.

Thứ hai là đích GT:người GT luôn gắn phát ngôn với đích GT. 18 Dẫn theo [87], ta cần phân biệt dich GT sau: theo tinh chất dich gắn với thực tiền, ta có: đích thực tiễn, dich NN. Dich thực tiễn ở ngoài hoạt động của lời nói. Hành động lời nói dùng đích NN là phương tiện để đạt được mục đích thực tiễn và dựa vào nó dé !ựa chọn và kết hợp các yếu tố NN để tạo lập ra các PN có mục đích, dụng ngôn; Theo chức năng của đích, ta có: đích nhận thức, đích tác động.

Đích nhận thức của hành động nói là làm cho người nhận sau khi tiếp nhận nội dung của PN, sẽ trở nên có cùng nhận thức với người phát về hiện thực trong PN đã dé cập. Đích tác động của hành động nói là làm cho người nhận phải có biến đổi nhất định trong trạng thái tâm lí, tình cảm và sau đó, thực hiện sự lựa chọn để có hành động đáp ứng phù hợp với mong muốn của cả hai vai. Hành động nói không phải chỉ là dừng lại ở vấn dé truyền đạt thông tin mà để thực hiện đích GT. Dich thực tiễn thực chất là đích tác động, còn thực chất của đích NN là đích nhận thức.

Trên thực tế các loại mục đích này hoà quyện, tương tác lẫn nhau, cái này là chỗ dựa của cái kia, cùng nhau tổn tại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ