Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng nguồn tài nguyên biển phong phú, giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Theo tinh thần Nghị quyết số 09-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 kinh tế biển đóng góp khoảng 53% đến 55% GDP và 55% đến 60% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Tiếp nối định hướng đó, Nghị quyết số 36-NQ/TW khóa XII xác định đến năm 2030 kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển sẽ đóng góp từ 65% đến 70% GDP toàn quốc, đồng thời thu nhập bình quân đầu người của cư dân ven biển phải gấp từ 1,2 lần trở lên so với mức bình quân cả nước.
Trong cấu trúc các ngành kinh tế biển, du lịch biển đóng vai trò là khâu đột phá thứ 4, dự kiến đóng góp từ 14% đến 15% GDP của nền kinh tế biển quốc gia. Tại tỉnh Thanh Hóa, huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn) với bờ biển dài hơn 42 km mang tiềm năng to lớn để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng biển kết hợp dịch vụ hậu cần cảng. Tuy nhiên, việc thực thi chính sách kinh tế du lịch biển tại địa phương vẫn đối mặt với nhiều bất cập, đặc biệt là việc phát huy vai trò chủ thể chính trị và nguồn lực thực tiễn của quần chúng nhân dân.
Luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng triển khai chính sách kinh tế du lịch biển tại huyện Tĩnh Gia trong giai đoạn 2010 - 2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao nhận thức, trách nhiệm và tính chủ động của nhân dân. Nghiên cứu mang ý nghĩa thiết thực trong việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm nâng cao hiệu lực quản lý công, thúc đẩy kinh tế địa phương tăng trưởng bình quân trên 15% mỗi năm và bảo đảm sinh kế bền vững cho hàng nghìn hộ gia đình ven biển.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng hệ thống phân tích dựa trên sự kết hợp giữa chủ nghĩa duy vật lịch sử mácxít và lý thuyết chu trình chính sách công hiện đại. Theo quan điểm triết học Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, là lực lượng sản xuất hàng đầu quyết định sự thành bại của mọi đường lối phát triển. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong kinh tế du lịch biển thể hiện rõ qua sự tương tác giữa con người với tài nguyên thiên nhiên và giữa các nhóm cộng đồng trong quá trình phân phối lợi ích.
Bên cạnh đó, tác giả vận dụng lý thuyết chính sách công của Dye (1972) và Anderson (1984), nhìn nhận chính sách là một chuỗi hành động có mục đích của nhà nước được thể chế hóa bằng pháp luật nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn. Nghiên cứu chuẩn hóa bốn khái niệm cốt lõi:
- Kinh tế biển: Toàn bộ hoạt động khai thác tài nguyên và dịch vụ diễn ra trên biển hoặc gắn liền trực tiếp với dải đất liền ven biển.
- Kinh tế du lịch biển: Ngành kinh tế dịch vụ thỏa mãn nhu cầu nghỉ dưỡng, tham quan dựa trên nền tảng tài nguyên biển đảo, dự kiến đóng góp 14% đến 15% GDP kinh tế thuần biển.
- Chính sách công: Hệ thống văn bản quy phạm và biện pháp quản lý của nhà nước nhằm điều tiết các quan hệ xã hội.
- Vai trò chủ thể của nhân dân: Vị trí trung tâm của người dân với tư cách vừa là người trực tiếp lao động sản xuất, vừa là đối tượng thụ hưởng và giám sát quyền lực chính trị.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm dữ liệu thứ cấp từ các văn kiện của Đảng, báo cáo thống kê kinh tế - xã hội định kỳ của UBND huyện Tĩnh Gia giai đoạn 2010 - 2019 và dữ liệu sơ cấp thu thập qua điền dã thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác lập gồm 180 hộ dân trực tiếp tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, đánh bắt hải sản tại ba xã trọng điểm ven biển là Hải Hòa, Hải Ninh, Nghi Sơn, kết hợp phỏng vấn sâu 25 cán bộ quản lý cấp huyện và xã, nâng tổng số mẫu tiếp cận lên 205 đối tượng.
Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng nhằm bảo đảm tính đại diện đồng đều giữa các nhóm ngành nghề: dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận tải và khai thác thủy sản. Luận văn lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả định lượng. Lý do lựa chọn là phương pháp này cho phép vừa hệ thống hóa được các quan điểm chính trị học sâu sắc, vừa lượng hóa được sự biến đổi trong thu nhập, nhận thức và mức độ hài lòng của cộng đồng cư dân. Quá trình thu thập và xử lý số liệu được triển khai liên tục từ năm 2017 đến năm 2019.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình khảo sát thực địa và xử lý dữ liệu giai đoạn 2017 - 2019 tại huyện Tĩnh Gia ghi nhận bốn kết quả nổi bật:
Thứ nhất, nhân dân là lực lượng nòng cốt trực tiếp đầu tư và vận hành các cơ sở dịch vụ du lịch. Các hộ kinh doanh cá thể của người dân địa phương chiếm hơn 85% tổng số phòng lưu trú và phục vụ trên 70% lượng du khách đến tham quan tại bãi biển Hải Hòa và vùng phụ cận.
Thứ hai, cơ cấu lao động địa phương có sự dịch chuyển mạnh mẽ. Tỷ lệ lao động tham gia trực tiếp và gián tiếp vào ngành du lịch dịch vụ tăng từ 12% năm 2010 lên mức 28,5% tổng lực lượng lao động ven biển vào năm 2019, góp phần nâng mức thu nhập bình quân của người dân làm du lịch lên khoảng 4,5 triệu đến 6 triệu đồng mỗi người một tháng.
Thứ ba, mức độ tham gia vào chu trình chính sách của người dân còn thiếu cân đối. Dữ liệu khảo sát chỉ ra rằng khoảng 62% người dân nắm được chủ trương phát triển du lịch biển của huyện, nhưng chỉ có 31,5% từng tham gia đóng góp ý kiến vào các quy hoạch đất đai hoặc đề án du lịch cộng đồng tại địa phương.
Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực du lịch tại chỗ còn ở mức thấp. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghiệp vụ du lịch bài bản chỉ đạt 24,8%, trong khi nhóm lao động phổ thông chưa qua đào tạo chiếm tới 75,2%, dẫn đến tình trạng thiếu hụt kỹ năng giao tiếp, ngoại ngữ và quản trị điểm đến chuyên nghiệp.
Thảo luận kết quả
Thực trạng trên phản ánh nguyên nhân căn bản nằm ở công tác tuyên truyền của một số cấp ủy, chính quyền cơ sở còn mang tính một chiều, chưa tạo lập được cơ chế đối thoại thường xuyên để khơi dậy quyền làm chủ của nhân dân. So sánh với các trung tâm du lịch biển lâu đời như Sầm Sơn hay Nha Trang, huyện Tĩnh Gia có tốc độ tăng trưởng lượng khách đạt mức khả quan trên 15% mỗi năm giai đoạn 2015 - 2019, song mức chi tiêu bình quân của du khách còn thấp, chỉ dao động từ 650.000 đến 850.000 đồng mỗi ngày do thiếu sản phẩm du lịch cao cấp.
Các phát hiện này có thể được biểu đạt trực quan thông qua bảng thống kê cơ cấu nguồn nhân lực du lịch phân theo trình độ chuyên môn giai đoạn 2017 - 2019 kết hợp với biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ lệ tham gia phản biện chính sách của nhân dân. Mô hình dữ liệu cho thấy mối tương quan thuận giữa trình độ học vấn của người dân với mức độ tích cực tham gia giám sát các công trình hạ tầng du lịch công cộng. Điều này khẳng định việc trao quyền và nâng cao dân trí chính trị cho người dân là yếu tố then chốt giúp tối ưu hóa hiệu quả thực thi chính sách kinh tế biển.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích thực chứng, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp đồng bộ nhằm phát huy tối đa vai trò của nhân dân trong giai đoạn tới:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và mở rộng dân chủ cơ sở: Cấp ủy và UBND huyện chỉ đạo đổi mới phương thức truyền thông chính sách qua hệ thống thông tin cơ sở và mạng xã hội, phấn đấu đạt 100% hộ dân ven biển được phổ biến đầy đủ quy hoạch phát triển kinh tế biển trước quý 4 năm 2021, đồng thời duy trì định kỳ 2 lần mỗi năm các hội nghị đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo huyện với cộng đồng ngư dân.
- Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực du lịch địa phương: Phòng Văn hóa - Thông tin chủ trì phối hợp với các trường cao đẳng, đại học tổ chức các khóa tập huấn ngắn hạn về văn hóa giao tiếp, nghiệp vụ buồng phòng và chế biến ẩm thực, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động du lịch qua đào tạo lên mức 55% vào năm 2022 và đạt trên 70% vào năm 2025.
- Đa dạng hóa và xây dựng các sản phẩm du lịch biển đặc thù: Huyện đoàn, Hội Nông dân vận động hội viên phát triển các mô hình du lịch trải nghiệm làng chài truyền thống, tham quan vùng nuôi trồng hải sản và khám phá sinh thái đảo Mê, hướng đến mục tiêu tăng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1,5 ngày lên 2,5 ngày trong giai đoạn 2021 - 2025.
- Hoàn thiện cơ chế tín dụng và hỗ trợ chuyển đổi sinh kế bền vững: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện triển khai gói vay vốn ưu đãi từ 50 triệu đến 100 triệu đồng mỗi hộ với lãi suất hỗ trợ, cam kết giải ngân cho hơn 500 hộ dân chuyển đổi từ khai thác thủy sản ven bờ sang kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái biển trước năm 2023.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho bốn nhóm đối tượng chính:
- Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước tại các địa phương ven biển: Cung cấp khung phương pháp luận và các chỉ số đánh giá thực tiễn để xây dựng, điều chỉnh chính sách phát triển du lịch gắn với bảo đảm an sinh xã hội cho hơn 65% cư dân vùng bờ.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Chính trị học, Quản lý công, Kinh tế biển: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuyên sâu về sự kết hợp giữa lý thuyết quyền lực chính trị của nhân dân và chu trình phân tích chính sách kinh tế ngành.
- Doanh nghiệp du lịch và các hộ kinh doanh cá thể ven biển: Cung cấp cái nhìn toàn diện về xu hướng tiêu dùng của du khách, giúp xây dựng phương án liên kết chuỗi dịch vụ nhằm nâng cao doanh thu từ 15% đến 20% mỗi năm.
- Tổ chức Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp cơ sở: Hỗ trợ tài liệu nghiệp vụ để thiết kế các chương trình giám sát cộng đồng, vận động 100% đoàn viên, hội viên tham gia giữ gìn môi trường và văn minh thương mại du lịch biển.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao nhân dân lại đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện chính sách kinh tế du lịch biển tại Tĩnh Gia?
Nhân dân là chủ thể trực tiếp sở hữu tư liệu sản xuất tại chỗ, tạo ra trên 85% cơ sở lưu trú và cung cấp các dịch vụ ăn uống, trải nghiệm thực tế cho du khách. Mọi chủ trương của Nhà nước chỉ trở thành hiện thực khi được nhân dân đồng thuận, trực tiếp triển khai và tham gia giám sát hàng ngày tại địa phương.
-
Hạn chế lớn nhất về nguồn nhân lực du lịch tại huyện Tĩnh Gia giai đoạn 2017 - 2019 là gì?
Hạn chế lớn nhất là có tới 75,2% lực lượng lao động du lịch chưa qua đào tạo chuyên môn bài bản. Đa số người dân làm du lịch theo thói quen tự phát, thiếu kỹ năng ngoại ngữ và nghiệp vụ chuyên nghiệp, làm giảm khả năng cạnh tranh và mức chi tiêu bình quân của du khách.
-
Chính quyền địa phương cần làm gì để thu hút người dân tham gia phản biện chính sách quy hoạch du lịch?
Chính quyền cần công khai 100% đồ án quy hoạch tại nhà văn hóa thôn, tổ chức lấy ý kiến trực tiếp trước khi phê duyệt và thiết lập hòm thư điện tử tiếp nhận phản ánh. Việc giải trình minh bạch các kiến nghị của người dân sẽ nâng tỷ lệ tham gia phản biện từ 31,5% lên trên 70%.
-
Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp nặng và du lịch biển tại Tĩnh Gia?
Cần thực hiện phân vùng không gian biển nghiêm ngặt theo Nghị quyết số 36-NQ/TW, bảo đảm khoảng cách an toàn sinh thái giữa khu liên hợp công nghiệp với bãi tắm Hải Hòa. Đồng thời, địa phương phải lắp đặt hệ thống quan trắc tự động để kiểm soát 100% nguồn nước thải xả ra môi trường biển.
-
Luận văn có giá trị ứng dụng ra sao khi huyện Tĩnh Gia phát triển thành thị xã Nghi Sơn?
Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để chính quyền đô thị mới chuyển đổi mô hình quản lý nông thôn sang chính quyền đô thị du lịch biển, hỗ trợ hơn 500 hộ ngư dân chuyển đổi sinh kế bền vững và nâng cao năng lực quản trị dịch vụ công hiện đại.
Kết luận
- Khẳng định nhân dân là chủ thể chính trị tối cao và là lực lượng sản xuất trực tiếp quyết định hiệu quả thực thi chính sách kinh tế du lịch biển.
- Đánh giá toàn diện thực trạng huyện Tĩnh Gia với tỷ lệ cơ sở lưu trú của nhân dân chiếm trên 85%, song nguồn nhân lực qua đào tạo mới đạt 24,8%.
- Hệ thống hóa khung lý luận chính trị học kết hợp phương pháp khảo sát thực chứng trên 205 đối tượng đại diện tại ba xã trọng điểm ven biển.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi về tuyên truyền, đào tạo nhân lực, đa dạng hóa sản phẩm và hỗ trợ vốn vay ưu đãi.
- Xác định lộ trình triển khai cụ thể đến năm 2025, định hướng đưa du lịch biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp trên 15% vào tổng giá trị sản xuất địa phương.
Trong giai đoạn 2021 - 2025, việc tiếp tục mở rộng nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa tại thị xã Nghi Sơn đối với sinh kế của cộng đồng cư dân ven biển là bước đi cần thiết nhằm hoàn thiện cơ chế quản trị địa phương. Kính mời quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý tham khảo toàn văn luận văn để tiếp cận chi tiết hệ thống dữ liệu và các phân tích chuyên sâu.