Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài "Truyền thông phát huy nghệ thuật Múa rối nước tại xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh" do sinh viên Đinh Thị Quỳnh Mai (lớp Văn hóa Truyền thông 20A, Khoa Quản lý Xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia) thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Nghiêm Xuân Mừng vào năm 2024.
Về bối cảnh thực tiễn, múa rối nước là loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống đặc sắc, gắn liền với nền văn minh lúa nước sông Hồng và là sản phẩm văn hóa phục vụ giáo dục, du lịch, quảng bá hình ảnh quốc gia. Tuy nhiên, trước tác động của quá trình phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nghệ thuật múa rối nước tại xã Ngũ Thái đang đứng trước nguy cơ mai một. Lực lượng nghệ nhân, diễn viên tham gia biểu diễn ngày càng suy giảm, đặc biệt là thế hệ trẻ ít mặn mà tham gia kế thừa. Bên cạnh đó, công tác truyền thông cho loại hình nghệ thuật này tại địa phương còn nhiều hạn chế, chưa thu hút được sự quan tâm thỏa đáng của công chúng và chưa khai thác hết tiềm năng quảng bá.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp truyền thông hiệu quả nhằm quảng bá rộng rãi nghệ thuật múa rối nước ở xã Ngũ Thái đến công chúng trong và ngoài nước, qua đó đóng góp vào công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm ba nội dung chính:
- Tổng hợp các nguồn tài liệu lý luận liên quan đến truyền thông, văn hóa truyền thông và phát huy di sản văn hóa phi vật thể múa rối nước.
- Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động truyền thông trực tiếp và gián tiếp đối với nghệ thuật múa rối nước tại xã Ngũ Thái hiện nay.
- Nhận diện các vấn đề đặt ra và đề xuất nhóm giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng truyền thông cho các mô hình rối nước tại địa phương.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động truyền thông cho nghệ thuật múa rối nước tại xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Phạm vi không gian đặt tại xã Ngũ Thái; phạm vi thời gian tập trung khảo sát từ năm 2015 đến nay (năm 2024); phạm vi nội dung bao gồm các kênh truyền thông trực tiếp (biểu diễn, tuyên truyền, dạy nghề) và gián tiếp (báo chí, phát thanh, truyền hình, Internet và mạng xã hội).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm nền tảng về truyền thông (dẫn chiếu quan điểm của Tạ Ngọc Tấn và giáo trình do Nguyễn Văn Dững chủ biên), văn hóa truyền thông (dẫn chiếu Nguyễn Đức Hạnh) và nghệ thuật múa rối nước (theo định nghĩa của PGS. Bùi Xuân Đính, Nguyễn Như Ý và Chu Huy). Về mặt pháp lý, đề tài căn cứ vào Khoản 1 Điều 9 Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 và Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam. Tác giả xác lập 9 tiêu chí truyền thông (Nội dung, Hình thức, Tính chính xác, Sáng tạo, Hiệu quả, Phù hợp, An toàn, Phát triển du lịch, Hỗ trợ và đầu tư) cùng 7 nhóm vai trò chức năng của truyền thông đối với di sản.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai cụ thể như sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích và tổng hợp các công trình khoa học đã công bố về truyền thông nghệ thuật biểu diễn (Lê Thị Thúy Hà, Trương Bích Ngọc, Võ Biên Thùy) và lịch sử múa rối nước (Nguyễn Huy Hồng, Lê Hương Giang, Nguyễn Hoàng Minh Vân).
- Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế: Quan sát thực địa và thực hiện phỏng vấn sâu đối với cán bộ quản lý văn hóa địa phương, các nghệ nhân dân gian tại thôn Đồng Ngư và ông Nguyễn Thành Lai - Giám đốc Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành (chủ quản Khu Bảo tồn không gian văn hóa Luy Lâu).
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Đối chiếu thực tế vận hành giữa mô hình phường rối dân gian làng nghề và mô hình doanh nghiệp văn hóa tư nhân để chỉ ra ưu - nhược điểm trong hoạt động truyền thông.
Nguồn dữ liệu bao gồm số liệu hành chính, các báo cáo hoạt động biểu diễn, các văn bản chính sách của UBND tỉnh Bắc Ninh, hồ sơ di sản của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh và tư liệu phỏng vấn thực tế tại địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về truyền thông phát huy nghệ thuật múa rối nước tại xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm công cụ và làm rõ bối cảnh địa bàn nghiên cứu. Về mặt địa lý - hành chính, xã Ngũ Thái nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng, cách Hà Nội khoảng 40km, gồm 5 thôn: Đồng Ngư, Liễu Ngạn, Cửu Yên, Tứ Kỳ và Bùi Xá; có Tỉnh lộ 283 và sông Dâu (sông Đậu) chảy qua. Làng Đồng Ngư là một trong những cái nôi múa rối nước cổ truyền có lịch sử lâu đời, thờ Thánh tổ tiên sinh (ngày giỗ tổ vào 20 tháng Giêng âm lịch, lưu giữ tượng Tổ gỗ mít cao 20cm). Rối Đồng Ngư được chế tác từ gỗ xoan, gỗ dướng, gỗ sung; tạo hình qua các bước đục thô, bôi đất sét, đánh bóng bằng rơm, quét keo da trâu, bồi giấy dó và phủ sơn ta; điều khiển bằng hệ thống máy sào và máy dây. Điểm độc đáo cổ xưa của rối Đồng Ngư là sử dụng hình tượng cụ già trên nóc thủy đình để dẫn truyện, biểu diễn kết hợp làn điệu dân ca Quan họ Bắc Ninh.
Tác giả phân tích cấu trúc của hai mô hình múa rối nước đang cùng tồn tại trên địa bàn xã:
- Mô hình phường rối dân gian thôn Đồng Ngư: Được phục hồi từ năm 1986 với 40 nghệ nhân, duy trì phương thức sinh hoạt cộng đồng làng xã, biểu diễn chính vào hội làng ngày 15/4 âm lịch.
- Mô hình doanh nghiệp tư nhân: Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành thành lập tháng 3/2010 do ông Nguyễn Thành Lai làm Giám đốc, thành lập "Phường rối nước Luy Lâu" hoạt động chuyên nghiệp (gồm 31 thành viên chính thức với 7 nữ, trên 30 cộng tác viên, chia làm 3 đoàn biểu diễn cơ động). Doanh nghiệp đầu tư xây dựng Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu trên diện tích 5.000m² (1.000m² đất gia đình, 4.000m² đất thuê của xã), tích hợp biểu diễn rối nước, hát Quan họ, ca trù, trải nghiệm làng nghề thủ công và trò chơi dân gian.
| Tiêu chí so sánh |
Mô hình Phường rối dân gian Đồng Ngư |
Mô hình Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành (Phường Luy Lâu) |
| Tính chất tổ chức |
Phường nghề dân gian thuộc cộng đồng làng xã |
Doanh nghiệp văn hóa tư nhân, hạch toán độc lập |
| Quy mô nhân lực |
Khoảng 20 nghệ nhân cao tuổi và trung niên |
31 thành viên chính thức (7 nữ), trên 30 cộng tác viên; chia 3 đoàn |
| Cơ sở vật chất |
Thủy đình ao làng, nhà văn hóa thôn |
Khu bảo tồn Luy Lâu 5.000m² (thủy đình, khu tạo hình, khu trải nghiệm) |
| Phương thức biểu diễn |
Tập trung vào dịp lễ hội làng, hội hè nông nhàn |
Biểu diễn lưu động, hợp đồng cố định tại các khu du lịch, sự kiện |
| Mức độ chủ động truyền thông |
Thụ động, phụ thuộc vào cơ quan văn hóa địa phương |
Chủ động mời báo đài, kết nối công ty lữ hành, lập mạng xã hội |
Chương 2: Thực trạng truyền thông phát huy nghệ thuật múa rối nước tại xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Chương 2 phản ánh chi tiết các kênh truyền thông thực tế tại địa phương thông qua số liệu khảo sát:
- Truyền thông trực tiếp qua biểu diễn: Từ khi mở rộng không gian diễn xướng, múa rối nước Ngũ Thái tham gia nhiều liên hoan toàn quốc và đạt các giải thưởng (giải Nhất năm 2002 tại Hà Nội, giải Nhì năm 2004 tại Huế, giải Nhì năm 2011 tại Hải Dương). Riêng năm 2020, Phường rối Luy Lâu thực hiện hơn 200 ca diễn: biểu diễn cố định 3 tháng đầu năm tại Khu du lịch quốc tế Tuần Châu (Quảng Ninh) với gần 100 lượt diễn viên tham gia, tần suất 6 ca/ngày; 20 ca diễn theo chỉ đạo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh tại 7 huyện, thị xã, thành phố; hơn 50 ca lưu động liên kết với Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và các hãng lữ hành (Sun Tour, Kinh Bắc, Minh Tâm). Thu nhập bình quân của diễn viên đạt 6 - 7 triệu đồng/tháng, cán bộ quản lý đạt 9 - 10 triệu đồng/tháng. Địa phương được thụ hưởng Đề án của UBND tỉnh Bắc Ninh phê duyệt tháng 10/2017 với kinh phí gần 17 tỉ đồng (giai đoạn 2018 - 2020) để nâng cấp thủy đình, nhà văn hóa và hỗ trợ thiết bị biểu diễn.
- Truyền thông qua tuyên truyền và dạy nghề: Hoạt động truyền dạy chưa có tính hệ thống, mỗi năm chỉ tổ chức được 1 - 2 lớp học ngắn hạn, chương trình đào tạo thiếu cập nhật kỹ năng mới, dễ làm suy giảm động lực gắn bó của học viên trẻ.
- Truyền thông gián tiếp qua báo chí và truyền hình: Khu Bảo tồn Luy Lâu chủ động đón tiếp các đoàn làm phim, phóng viên của Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), Truyền hình Công an Nhân dân, Báo Nhân Dân, Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Ninh để xây dựng phóng sự, quảng bá hình ảnh di sản.
- Truyền thông qua Internet và mạng xã hội: Đã thành lập website và các trang mạng xã hội (Facebook, Zalo) nhưng lượng tương tác còn thấp, nội dung số đơn điệu, thiếu nhân sự có chuyên môn công nghệ thông tin và truyền thông số, chưa tạo được chiến dịch viral để thu hút khách du lịch trẻ.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông phát huy nghệ thuật múa rối nước tại xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ trên các phương diện:
- Xây dựng chiến lược truyền thông toàn diện: Đa dạng hóa thông điệp, kết hợp chặt chẽ giữa truyền thông trực tiếp (sự kiện, tour trải nghiệm học đường, liên hoan) và truyền thông trực tuyến; tận dụng công nghệ ghi hình, video ngắn chất lượng cao.
- Đầu tư nguồn lực và mở rộng hợp tác: Tăng cường liên kết giữa chính quyền địa phương, các công ty du lịch lữ hành, trường học và bảo tàng nhằm duy trì lượng khách ổn định.
- Nâng cao năng lực đội ngũ làm truyền thông: Tập huấn kỹ năng số, xây dựng nội dung đa phương tiện, bồi dưỡng kiến thức văn hóa di sản cho đội ngũ nhân sự trẻ tại địa phương.
- Hoàn thiện cơ chế chính sách và kiểm soát tác động tiêu cực: Xây dựng quy chế phối hợp quản lý giữa phường rối dân gian và doanh nghiệp tư nhân; thực hiện chính sách đãi ngộ nghệ nhân; bảo đảm tính chuẩn xác của các tích trò cổ truyền, ngăn ngừa nguy cơ thương mại hóa làm biến dạng bản sắc di sản.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp bức tranh dữ liệu cụ thể về công tác truyền thông di sản tại địa phương:
- Tổng hợp số liệu hoạt động của mô hình xã hội hóa: Phường rối Luy Lâu (Công ty Rối nước Thuận Thành) với 31 thành viên, duy trì 3 đoàn cơ động, thực hiện trên 200 ca diễn trong năm 2020 (tiêu biểu là hợp đồng cố định tại Tuần Châu phục vụ 6 ca/ngày trong 3 tháng đầu năm 2020 và hơn 50 ca lưu động liên kết lữ hành).
- Ghi nhận thông tin Đề án ngân sách nhà nước giai đoạn 2018 - 2020 của UBND tỉnh Bắc Ninh trị giá gần 17 tỉ đồng đầu tư cơ sở hạ tầng (thủy đình, nhà văn hóa, âm thanh, con trò).
- Về mặt lý luận, đề tài góp phần làm rõ việc vận dụng chủ trương xã hội hóa văn hóa của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực truyền thông phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở cấp cơ sở.
- Về mặt thực tiễn, đề tài phân tích mô hình liên kết kép (giữ gìn phường rối truyền thống Đồng Ngư song song với thành lập doanh nghiệp tư nhân Luy Lâu), cung cấp luận cứ thực tiễn để chính quyền địa phương và các nghệ nhân cải tiến kênh quảng bá, hoàn thiện nội dung số và chuẩn hóa công tác dạy nghề.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào địa bàn xã Ngũ Thái với phương pháp định tính và khảo sát điền dã; các dữ liệu về chỉ số truyền thông Internet (lượng tiếp cận, tỷ lệ tương tác trên website/mạng xã hội, tỷ lệ chuyển đổi thành khách du lịch thực tế) chưa được thu thập bằng công cụ đo lường số liệu chuyên sâu mà chủ yếu dựa trên quan sát và phỏng vấn trực tiếp.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá hiệu quả kinh tế - truyền thông của mô hình chuyển đổi số di sản; đo lường mức độ tiếp nhận của các nhóm công chúng mục tiêu (học sinh, sinh viên, khách quốc tế) đối với các sản phẩm truyền thông đa phương tiện về múa rối nước vùng Kinh Bắc.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tư liệu thực địa có giá trị dành cho:
- Sinh viên, học viên các ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Báo chí và Truyền thông, Quản trị dịch vụ du lịch khi nghiên cứu về truyền thông di sản phi vật thể và mô hình xã hội hóa văn hóa.
- Các nhà quản lý văn hóa cấp cơ sở, ban quản lý di tích và các nghệ nhân tại các phường rối nước dân gian vùng châu thổ sông Hồng (Đào Thục, Chàng Sơn, Bồ Dương, An Liệt, Bùi Thượng...) trong việc tham khảo mô hình tổ chức biểu diễn chuyên nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm.
- Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 với các tư liệu khảo sát chi tiết về cơ cấu vận hành của Phường rối Luy Lâu, quy trình chế tác con rối cổ truyền Đồng Ngư và dữ liệu triển khai các đề án bảo tồn tại địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Nét đặc trưng riêng biệt nhất trong nghệ thuật biểu diễn của rối nước làng Đồng Ngư là gì?
Rối nước Đồng Ngư có tích trò riêng gắn với làn điệu dân ca Quan họ Bắc Ninh mượt mà, và nét độc đáo nhất trong lịch sử là sử dụng hình tượng con rối cụ già đặt trên nóc thủy đình làm nhiệm vụ dẫn truyện (khác biệt với các phường rối khác), dù hiện nay đã kết hợp thêm nhân vật chú Tễu để giao lưu hội nhập.
2. Quy mô và cơ cấu tổ chức của mô hình rối nước tư nhân tại xã Ngũ Thái như thế nào?
Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành thành lập tháng 3/2010 do ông Nguyễn Thành Lai làm Giám đốc, quản lý Phường rối nước Luy Lâu với 31 thành viên (7 nữ), trên 30 cộng tác viên, chia làm 3 đoàn biểu diễn cơ động; sở hữu mặt bằng 5.000m² tại Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu.
3. Đề án bảo tồn rối nước làng Đồng Ngư của tỉnh Bắc Ninh có tổng kinh phí bao nhiêu và triển khai khi nào?
Đề án mang tên "Bảo tồn và phát huy giá trị múa rối nước làng Đồng Ngư, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh" được UBND tỉnh Bắc Ninh phê duyệt vào tháng 10/2017, triển khai trong giai đoạn 2018 - 2020 với tổng kinh phí gần 17 tỉ đồng.
4. Kênh truyền thông qua Internet của rối nước Ngũ Thái đang gặp những tồn tại chính nào?
Mặc dù đã lập website, fanpage Facebook và Zalo, nhưng các kênh này chưa được đầu tư bài bản, lượng tương tác thấp, thiếu đội ngũ kỹ thuật chuyên trách và thiếu sự đồng bộ với các kênh truyền thông trực tiếp.
5. Hoạt động biểu diễn trực tiếp của Phường rối Luy Lâu đạt kết quả nổi bật nào trong năm 2020?
Trong năm 2020, đơn vị đã thực hiện hơn 200 ca diễn, tiêu biểu gồm 3 tháng đầu năm biểu diễn cố định tại Khu vui chơi quốc tế Tuần Châu (Quảng Ninh) với 6 ca/ngày, 20 ca diễn cấp tỉnh tại 7 huyện/thị/thành và hơn 50 ca lưu động liên kết với các đơn vị lữ hành và bảo tàng.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đinh Thị Quỳnh Mai đã làm rõ cơ sở lý luận và phản ánh chân thực thực trạng truyền thông phát huy nghệ thuật múa rối nước tại xã Ngũ Thái qua hai mô hình dân gian và tư nhân hóa. Công trình cung cấp hệ thống số liệu điền dã có giá trị về tần suất biểu diễn, nguồn lực đầu tư cũng như chỉ rõ các điểm nghẽn trong công tác truyền thông số và đào tạo nghề. Các giải pháp và khuyến nghị được đề xuất mang tính khả thi, góp phần hỗ trợ thiết thực cho công tác bảo tồn, lan tỏa giá trị di sản văn hóa phi vật thể của vùng đất Kinh Bắc.