Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Truyền thông phát huy nghệ thuật múa rối nước tại xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh" do sinh viên Đinh Thị Quỳnh Mai (lớp Văn hóa Truyền thông 20A, Khoa Quản lý xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia) thực hiện năm 2024 dưới sự hướng dẫn của ThS. Nghiêm Xuân Mừng. Công trình thuộc chuyên ngành Văn hóa Truyền thông, tiếp cận đối tượng dưới góc độ quản lý văn hóa và truyền thông chính sách kết hợp truyền thông xã hội hóa.
Nghệ thuật múa rối nước là loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian độc đáo của cư dân nông nghiệp lúa nước vùng châu thổ sông Hồng, xuất hiện từ thế kỷ X. Làng Đồng Ngư (xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) là một trong 14 phường rối dân gian truyền thống hiếm hoi trong cả nước còn duy trì hoạt động. Tuy nhiên, trước tác động mạnh mẽ của công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nghệ thuật múa rối nước tại đây đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng. Lực lượng nghệ nhân am hiểu nghề ngày càng cao tuổi, trong khi thế hệ trẻ ít mặn mà tham gia; các đồ dùng, dụng cụ truyền thống bị thay thế; công tác truyền thông, quảng bá chưa được đầu tư thỏa đáng, dẫn đến việc di sản thiếu sức hút đối với công chúng đương đại.
Mục đích nghiên cứu của tác giả là khảo sát thực trạng, nhận diện các điểm nghẽn và đề xuất hệ thống giải pháp truyền thông phù hợp nhằm mở rộng phạm vi tiếp cận của múa rối nước Đồng Ngư tới công chúng trong và ngoài nước, phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa các nguồn tài liệu lý luận cơ bản về truyền thông, văn hóa truyền thông và phát huy di sản văn hóa phi vật thể.
- Phân tích thực trạng hoạt động truyền thông trực tiếp và gián tiếp đối với múa rối nước tại xã Ngũ Thái trong giai đoạn từ năm 2015 đến nay.
- Làm rõ những mặt đạt được cùng các hạn chế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị nâng cao hiệu quả công tác truyền thông cho địa phương và các mô hình biểu diễn.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động truyền thông cho nghệ thuật múa rối nước tại địa bàn xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Phạm vi nội dung bao quát các kênh truyền thông trực tiếp (hoạt động biểu diễn, dạy nghề, tuyên truyền) và gián tiếp (báo chí, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội). Phạm vi không gian tập trung tại xã Ngũ Thái với hai mô hình tiêu biểu là Phường rối nước dân gian Đồng Ngư và Khu bảo tồn không gian văn hóa Luy Lâu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên (TNHH MTV) Rối nước Thuận Thành. Phạm vi thời gian nghiên cứu giới hạn từ năm 2015 đến năm 2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành:
- Khái niệm "Truyền thông": Tác giả viện dẫn định nghĩa của Tạ Ngọc Tấn (truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau) và quan điểm của Nguyễn Văn Dững (quá trình chia sẻ thông tin, tri thức, tình cảm nhằm thay đổi nhận thức và điều chỉnh hành vi).
- Khái niệm "Văn hóa truyền thông": Dẫn theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Hạnh về quá trình xuất hiện, biến đổi của hiện tượng truyền thông và các tương tác xã hội của nó.
- Khái niệm "Nghệ thuật múa rối nước": Tiếp thu nhận định của PGS. Bùi Xuân Đính (nghệ thuật sân khấu dân gian kết hợp điêu khắc với nghệ thuật ca hát, biểu diễn trong môi trường nước) và Từ điển Văn hóa, phong tục cổ truyền Việt Nam của Nguyễn Như Ý - Chu Huy (rối lấy mặt nước làm sân khấu, vận hành bằng hệ thống máy sào và máy dây).
Về cơ sở pháp lý, tác giả căn cứ vào:
- Khoản 1, Điều 9, Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 về chính sách bảo vệ và khuyến khích xã hội hóa hoạt động phát huy giá trị di sản văn hóa.
- Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam.
- Quyết định phê duyệt Đề án "Bảo tồn và phát huy giá trị múa rối nước làng Đồng Ngư, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh" giai đoạn 2018-2020 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bắc Ninh (ban hành tháng 10/2017) với tổng kinh phí gần 17 tỷ đồng.
- Hồ sơ năm 2012 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) tỉnh Bắc Ninh trình Bộ VH-TT&DL đưa nghệ thuật rối nước Đồng Ngư vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia.
Tác giả thiết lập 9 tiêu chí truyền thông múa rối nước: Nội dung, Hình thức, Chính xác, Sáng tạo, Hiệu quả, Phù hợp, An toàn, Phát triển du lịch, Hỗ trợ và đầu tư; đồng thời chỉ ra 8 vai trò trọng yếu của truyền thông đối với di sản (giới thiệu quảng bá, nâng cao nhận thức, hỗ trợ bảo tồn, thúc đẩy du lịch, giao lưu văn hóa, đánh giá, giáo dục - đào tạo, gây quỹ).
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp ba phương pháp chính:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích tài liệu thứ cấp về lịch sử múa rối nước Việt Nam của các học giả Nguyễn Huy Hồng, Lê Hương Giang, Nguyễn Hoàng Minh Vân; các công trình truyền thông di sản của Võ Biên Thùy, Lê Thị Thúy Hà.
- Phương pháp điền dã: Trực tiếp khảo sát thực địa tại làng Đồng Ngư và Khu bảo tồn không gian văn hóa Luy Lâu; phỏng vấn sâu lãnh đạo chính quyền địa phương, cán bộ xã Ngũ Thái, các nghệ nhân cao niên và ông Nguyễn Thành Lai (Giám đốc Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành).
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Đánh giá số liệu biểu diễn, chi phí, nhân sự để đối chiếu hiệu quả giữa mô hình phường rối truyền thống của thôn và mô hình doanh nghiệp tư nhân.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm văn bản chính sách, báo cáo hành chính của xã Ngũ Thái, tài liệu quản lý nội bộ của Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành, biên bản phỏng vấn thực địa và dữ liệu truyền thông từ báo chí trung ương, địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về truyền thông phát huy nghệ thuật múa rối nước tại xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Chương 1 hệ thống hóa khung lý luận về truyền thông văn hóa và cung cấp bức tranh địa bàn nghiên cứu. Xã Ngũ Thái nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm Hà Nội khoảng 40 km, giáp phường Hà Mãn, phường Xuân Lâm, xã Song Liễu, xã Nguyệt Đức và tỉnh Hưng Yên. Xã gồm 5 thôn: Đồng Ngư, Liễu Ngạn, Cửu Yên, Tứ Kỳ, Bùi Xá; bị chia cắt bởi sông Dâu. Địa phương có lịch sử lâu đời, từng thuộc tổng Đại Đồng, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An; nổi tiếng với nghề làm gạch ngói, hát ca trù và múa rối nước.
Làng Đồng Ngư nằm cách trung tâm Luy Lâu cổ khoảng 3 km, còn lưu giữ bức tượng Tổ trò bằng gỗ mít cao 20 cm phủ sơn nâu, giỗ tổ vào ngày 20 tháng Giêng âm lịch. Con rối Đồng Ngư được đục đẽo từ gỗ xoan, gỗ sung hoặc gỗ duối, bôi đất sét, đánh bóng bằng rơm, quét keo da trâu, bồi giấy dó và phủ sơn ta chống thấm. Điểm khu biệt của múa rối nước Đồng Ngư là việc lồng ghép các làn điệu Dân ca Quan họ Bắc Ninh mượt mà vào tích trò và trước đây sử dụng hình tượng cụ già trên nóc thủy đình để dẫn truyện (hiện nay dùng chú Tễu theo xu hướng chung). Một buổi diễn chuẩn gồm khoảng 15 tích trò (như Đốt pháo bật cờ, Thổi sáo chăn trâu, Cấy cày, Đánh cá úp nơm, Hát quan họ, Đánh đu, Múa rồng...), mỗi trò kéo dài 3-5 phút.
Chương này cũng phân định rõ cấu trúc vận hành của hai mô hình tại địa phương:
- Phường rối nước dân gian Đồng Ngư: Đại diện cho cộng đồng làng nghề truyền thống, khôi phục từ năm 1986 với 40 nghệ nhân dưới sự hỗ trợ của Viện Văn hóa.
- Doanh nghiệp tư nhân: Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành, thành lập tháng 3/2010 do nghệ nhân Nguyễn Thành Lai (sinh năm 1971) đứng đầu. Doanh nghiệp lập ra "Phường rối nước Luy Lâu" hoạt động độc lập, xây dựng Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu quy mô 5.000 m2 (1.000 m2 đất gia đình, 4.000 m2 đất thuê của xã), tổ chức thành 3 đoàn biểu diễn cơ động (mỗi đoàn 12 người).
Chương 2: Thực trạng truyền thông phát huy nghệ thuật múa rối nước tại xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Chương 2 phân tích chi tiết dữ liệu thực nghiệm về hoạt động truyền thông giai đoạn 2015-2024 qua hai trục: trực tiếp và gián tiếp.
Ở kênh truyền thông trực tiếp:
- Hoạt động biểu diễn: Trước đây, phường Đồng Ngư chỉ có 28 người, mỗi năm diễn 1-2 lần vào hội làng ngày 15/4 âm lịch. Hiện nay, phường Đồng Ngư có khoảng 20 người; Phường Luy Lâu có 31 thành viên chính thức (7 nữ) cùng hơn 30 cộng tác viên. Tần suất biểu diễn đạt trung bình 40-50 lượt/năm. Riêng năm 2020, Phường rối Luy Lâu đã tổ chức hơn 200 ca diễn. Trong đó, Đoàn 2 biểu diễn cố định tại Khu vui chơi giải trí quốc tế Tuần Châu (Hạ Long, Quảng Ninh) phục vụ khách du lịch với cường độ 6 ca/ngày trong 3 tháng đầu năm (với gần 100 lượt diễn viên tham gia); thực hiện 20 ca diễn theo điều động của Sở VH-TT&DL tại 7 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh; và hơn 50 ca lưu động liên kết cùng Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, khu đô thị Ecopark Hưng Yên, các đơn vị lữ hành như Sun Tour, Kinh Bắc, Minh Tâm. Thu nhập của diễn viên Khu bảo tồn đạt 6-7 triệu đồng/tháng, cấp quản lý đạt 9-10 triệu đồng/tháng.
- Hoạt động dạy nghề và tuyên truyền: Địa phương và doanh nghiệp phối hợp mở các lớp truyền nghề cho thanh thiếu niên, trang bị kỹ thuật điều khiển con rối, tích hợp âm nhạc dân gian và lịch sử văn hóa. Tuy nhiên, hoạt động này còn gián đoạn, chỉ tổ chức được 1-2 lớp/năm, nội dung chậm đổi mới, tiềm ẩn nguy cơ thiếu hụt nhân lực kế cận chất lượng cao.
Ở kênh truyền thông gián tiếp:
- Báo chí, truyền hình: Doanh nghiệp và địa phương đã chủ động đón tiếp các đoàn phóng viên thuộc Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), Truyền hình Công an Nhân dân, Báo Nhân Dân, Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Ninh về ghi hình trực tiếp tại thủy đình Luy Lâu, tạo sức lan tỏa lớn.
- Internet và mạng xã hội: Địa phương đã lập trang thông tin điện tử và trang mạng xã hội (Facebook, Zalo). Dù vậy, kênh này còn manh mún, các bài viết, video hình ảnh chưa được tối ưu hóa, tính tương tác cộng đồng thấp do nhân sự thiếu kỹ năng kỹ thuật số và thiếu chiến lược bài bản.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông phát huy nghệ thuật múa rối nước tại xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị toàn diện nhằm khắc phục các điểm nghẽn đã chỉ ra ở Chương 2:
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông và nguồn nhân lực:
- Xây dựng chiến lược truyền thông dài hạn, kết hợp chặt chẽ giữa quảng bá di sản và phát triển du lịch làng nghề Kinh Bắc.
- Đa dạng hóa các kênh truyền thông, nâng cấp website và mạng xã hội bằng hình ảnh, video chất lượng cao; tăng cường ứng dụng công nghệ trực quan.
- Tăng cường đầu tư ngân sách, huy động nguồn lực xã hội hóa để nâng cấp cơ sở vật chất, thủy đình, hệ thống con rối.
- Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức tiếp thị văn hóa và kỹ năng truyền thông kỹ thuật số cho đội ngũ nghệ nhân, cán bộ cơ sở.
- Nhóm giải pháp hạn chế tác động tiêu cực và hoàn thiện cơ chế, chính sách:
- Kiểm soát chất lượng nội dung các tích trò, tránh việc thương mại hóa quá mức làm sai lệch bản sắc văn hóa truyền thống của múa rối nước và dân ca Quan họ.
- Xây dựng cơ chế phối hợp minh bạch giữa chính quyền địa phương, Phường rối dân gian Đồng Ngư và doanh nghiệp tư nhân; thực hiện chính sách đãi ngộ, bảo hiểm, hỗ trợ kinh phí cho các nghệ nhân cao tuổi nắm giữ bí quyết nghề.
- Các khuyến nghị cụ thể:
- Nâng cao hàm lượng thông tin trong nội dung truyền thông, giải thích rõ ngữ nghĩa các tích trò cổ.
- Mở rộng liên kết với hệ thống trường học (THCS, THPT) trên địa bàn để đưa học sinh đến trải nghiệm thực tế tại Khu bảo tồn Luy Lâu.
- Thiết lập cơ chế đánh giá định kỳ mức độ hài lòng và tương tác của công chúng để điều chỉnh thông điệp truyền thông kịp thời.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh chân thực số liệu hoạt động của hai mô hình bảo tồn, truyền thông múa rối nước tại xã Ngũ Thái:
| Tiêu chí so sánh |
Phường rối nước dân gian Đồng Ngư |
Phường rối nước Luy Lâu (Công ty Rối nước Thuận Thành) |
| Bản chất tổ chức |
Mô hình cộng đồng làng xã truyền thống |
Doanh nghiệp tư nhân xã hội hóa (TNHH MTV) |
| Năm thành lập/tái lập |
Tái lập năm 1986 |
Thành lập tháng 3/2010 |
| Quy mô nhân lực |
Khoảng 20 nghệ nhân |
31 thành viên (7 nữ), >30 cộng tác viên; chia 3 đoàn |
| Cơ sở vật chất |
Thủy đình làng, ao làng Đồng Ngư |
Khu bảo tồn 5.000 m2 (1.000 m2 đất nhà, 4.000 m2 đất thuê) |
| Địa bàn biểu diễn chính |
Lễ hội truyền thống địa phương, giao lưu |
Tuần Châu (Quảng Ninh), Ecopark, bảo tàng, lưu động toàn quốc |
| Thu nhập bình quân |
Thù lao theo mùa vụ lễ hội |
6-7 triệu đồng/tháng (diễn viên), 9-10 triệu đồng (quản lý) |
| Độ phủ truyền thông |
Truyền miệng, khách hội làng, văn nghệ cơ sở |
Báo hình (VTV, CAND, Nhân Dân), mạng xã hội, tour du lịch |
Đóng góp của đề tài:
- Về mặt lý luận: Khóa luận góp phần làm sáng tỏ việc vận dụng quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thông qua công cụ truyền thông hiện đại tại cấp cơ sở.
- Về mặt thực tiễn: Đây là công trình đầu tiên khảo sát trực tiếp và toàn diện hoạt động truyền thông múa rối nước tại làng Đồng Ngư, xã Ngũ Thái. Đề tài cung cấp các cứ liệu thực chứng về việc kết hợp giữa bảo tồn di sản thuần túy của làng xã với mô hình kinh doanh văn hóa tư nhân, đưa ra hệ thống kiến nghị bám sát tình hình thực tế của địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Tác giả chưa thu thập được các chỉ số đo lường hiệu quả truyền thông kỹ thuật số cụ thể (lượt tiếp cận, tỷ lệ chuyển đổi, nhân khẩu học người theo dõi trên website và mạng xã hội của địa phương).
- Dữ liệu biểu diễn giai đoạn 2020-2022 bị ngắt quãng và ảnh hưởng lớn bởi dịch bệnh Covid-19 (ví dụ như việc dừng biểu diễn hợp đồng dài hạn tại Khu du lịch Tuần Châu).
- Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào phía chủ thể phát thông điệp (nghệ nhân, doanh nghiệp, chính quyền), chưa tiến hành khảo sát định lượng diện rộng đối với công chúng tiếp nhận (khán giả, khách du lịch).
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Đo lường định lượng mức độ tiếp nhận và phản hồi của công chúng trẻ đối với các sản phẩm truyền thông múa rối nước trên môi trường số.
- Nghiên cứu mô hình số hóa 3D con rối và không gian biểu diễn thủy đình phục vụ giáo dục di sản trực tuyến.
- Đánh giá liên kết chuỗi giá trị du lịch văn hóa giữa di sản múa rối nước Ngũ Thái với các điểm di tích lân cận như thành cổ Luy Lâu, chùa Dâu, làng tranh Đông Hồ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tư liệu thực tiễn hữu ích đối với:
- Sinh viên, học viên các ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Quản lý xã hội, Báo chí và Truyền thông đại chúng khi nghiên cứu về truyền thông di sản phi vật thể và xã hội hóa văn hóa.
- Cán bộ quản lý văn hóa cấp huyện, xã và ban quản lý các di tích, làng nghề truyền thống vùng châu thổ Bắc Bộ trong việc xây dựng kế hoạch tuyên truyền, quảng bá văn hóa bản địa.
- Các nghệ nhân, chủ nhiệm câu lạc bộ nghệ thuật dân gian, doanh nghiệp văn hóa đang tìm kiếm giải pháp dung hòa giữa bảo tồn nguyên gốc và khai thác kinh tế du lịch.
Phần đáng tham khảo nhất trong khóa luận là các cứ liệu điền dã ở Chương 2, mô tả chi tiết phương thức tổ chức biểu diễn, cơ cấu nhân sự 3 đoàn cơ động và phân tích hoạt động của mô hình Khu Bảo tồn văn hóa dân gian Luy Lâu do tư nhân đầu tư.
Câu hỏi thường gặp
1. Nghệ thuật múa rối nước làng Đồng Ngư có những nét đặc trưng riêng biệt nào so với các phường rối khác?
Rối nước Đồng Ngư nổi bật ở hai yếu tố: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật điều khiển con rối với các làn điệu Dân ca Quan họ Bắc Ninh mượt mà; và trong lịch sử, phường rối sử dụng hình tượng con rối cụ già đặt trên nóc thủy đình để đảm nhiệm vai trò dẫn truyện (thay vì chỉ dùng chú Tễu như đa số các phường rối khác).
2. Đề án bảo tồn múa rối nước Đồng Ngư của UBND tỉnh Bắc Ninh có quy mô ngân sách và thời gian triển khai như thế nào?
Đề án được UBND tỉnh Bắc Ninh phê duyệt vào tháng 10 năm 2017, triển khai trong giai đoạn 2018-2020 với tổng kinh phí gần 17 tỷ đồng, tập trung xây dựng lại thủy đình, nhà văn hóa, hỗ trợ trang thiết bị âm nhạc, sân khấu và con trò.
3. Cơ cấu tổ chức của mô hình múa rối nước tư nhân (Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành) tại Ngũ Thái được phân chia ra sao?
Công ty thành lập Phường rối nước Luy Lâu gồm 31 thành viên và hơn 30 cộng tác viên, chia làm 3 đoàn biểu diễn lưu động (mỗi đoàn 12 người): Đoàn 1 do nghệ nhân Nguyễn Đình Hiệp phụ trách; Đoàn 2 do nghệ nhân Nguyễn Văn Huy phụ trách (chuyên diễn tại Tuần Châu); Đoàn 3 do nghệ nhân Nguyễn Văn Đoàn phụ trách. Trụ sở đặt tại Khu bảo tồn không gian văn hóa Luy Lâu rộng 5.000 m2.
4. Khóa luận chỉ ra những hạn chế chính nào trong công tác truyền thông qua Internet đối với múa rối nước Ngũ Thái?
Truyền thông qua Internet còn thiếu đầu tư và sự nhất quán; các trang mạng xã hội (Facebook, Zalo) có mức độ tương tác thấp; thiếu nhân lực có kỹ năng kỹ thuật số và kiến thức tiếp thị trực tuyến; chưa xây dựng được nội dung số hấp dẫn để tiếp cận nhóm công chúng trẻ tuổi.
5. Hoạt động biểu diễn của Phường rối nước Luy Lâu tại Khu du lịch Tuần Châu (Quảng Ninh) diễn ra với tần suất như thế nào?
Từ năm 2016, Đoàn 2 của phường biểu diễn cố định tại Tuần Châu. Trong 3 tháng đầu năm 2020, đoàn duy trì cường độ biểu diễn trung bình 6 ca/ngày với gần 100 lượt diễn viên tham gia phục vụ du khách trong nước và quốc tế trước khi tạm dừng do dịch Covid-19.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Đinh Thị Quỳnh Mai đã phản ánh trung thực, có hệ thống thực trạng truyền thông phát huy di sản múa rối nước tại làng Đồng Ngư, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Nghiên cứu chỉ rõ nét độc đáo của di sản gắn liền với dân ca Quan họ, đồng thời đối sánh sâu sắc giữa mô hình bảo tồn cộng đồng làng xã và mô hình doanh nghiệp xã hội hóa của Công ty TNHH MTV Rối nước Thuận Thành. Các giải pháp và khuyến nghị được đề xuất xuất phát trực tiếp từ các điểm nghẽn thực tế về nhân lực, nguồn vốn và kênh truyền thông số. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho công tác quản lý, quảng bá di sản văn hóa phi vật thể tại các vùng quê đồng bằng Bắc Bộ.