Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hà Nội sở hữu hơn 1.350 làng nghề và làng có nghề, trong đó có hơn 200 làng nghề truyền thống tiêu biểu. Tại huyện Thường Tín, địa bàn được mệnh danh là đất trăm nghề với 120 trên 126 làng có nghề (chiếm 95,24%) và 45 làng nghề được công nhận chính thức, nghề thêu ren truyền thống giữ vị trí đặc biệt quan trọng về cả giá trị kinh tế lẫn bản sắc văn hóa. Làng nghề thêu Quất Động cùng các làng nghề lân cận có lịch sử hình thành từ thế kỷ 17, gắn liền với công đức của ông tổ nghề Lê Công Hành. Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, các làng nghề thêu ren tại Thường Tín đang đối mặt với nguy cơ suy giảm sức cạnh tranh, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, kỹ thuật manh mún và thị trường tiêu thụ thiếu ổn định.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Đào Thị Kim Thanh được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển làng nghề thêu ren truyền thống trên địa bàn huyện Thường Tín giai đoạn 2013-2015, từ đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững. Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung tại 4 xã trọng điểm: Quất Động, Dũng Tiến, Thắng Lợi và Nguyễn Trãi. Về mặt giá trị thực tiễn, nghiên cứu làm rõ vai trò của ngành thêu ren trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương. Giai đoạn 2013-2015, cơ cấu kinh tế huyện Thường Tín chuyển biến tích cực với tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng đạt 54,5%, thương mại và dịch vụ chiếm 34,5%, nông nghiệp giảm xuống 11%. Phát triển làng nghề thêu ren đã góp phần nâng thu nhập bình quân đầu người toàn huyện từ 23,6 triệu đồng năm 2013 lên 27,5 triệu đồng năm 2015, đồng thời giảm 845 hộ nghèo trong cùng giai đoạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển kinh tế nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nhà kinh tế học hiện đại như Ngô Thắng Lợi và Bùi Ngọc Quyết. Theo đó, phát triển kinh tế không chỉ dừng lại ở sự gia tăng về quy mô sản lượng mà còn đòi hỏi sự hoàn thiện về thể chế, nâng cao chất lượng đời sống và bảo đảm công bằng xã hội theo hướng ly nông bất ly hương. Bên cạnh đó, tác giả kế thừa khung lý thuyết về kinh tế làng nghề truyền thống của Dương Bá Phượng và Đỗ Quang Dũng để xác lập các tiêu chí chuẩn mực về làng nghề.

Ba khái niệm nòng cốt được vận dụng xuyên suốt công trình gồm:

  • Làng nghề nông thôn theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN;
  • Làng nghề truyền thống với tiêu chí lịch sử tồn tại trên 50 năm, có tối thiểu 30% tổng số hộ hoặc 300 lao động tham gia và thu nhập từ nghề phi nông nghiệp đạt trên 50% tổng giá trị sản xuất;
  • Phát triển làng nghề bền vững là quá trình tăng trưởng kết hợp hài hòa ba trụ cột: hiệu quả kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái.

Ngoài ra, luận văn còn tổng hợp kinh nghiệm phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp từ Nhật Bản, Thái Lan, Indonesia và các tỉnh lân cận như Bắc Ninh, Hải Dương để đúc kết bài học về hỗ trợ vốn, liên kết doanh nghiệp và xúc tiến thương mại.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Thường Tín, báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Kinh tế, Phòng Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2013-2015. Nguồn dữ liệu sơ cấp được điều tra khảo sát thực tế từ tháng 4/2015 đến tháng 4/2016 thông qua bảng hỏi cấu trúc và phỏng vấn chuyên sâu.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 98 đối tượng, được phân bổ cụ thể: 58 hộ sản xuất cá thể, 4 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, 8 doanh nghiệp tư nhân thêu ren, 8 cán bộ quản lý cấp huyện và xã, cùng 20 khách hàng tiêu thụ sản phẩm tại 4 xã đại diện là Quất Động, Dũng Tiến, Thắng Lợi và Nguyễn Trãi. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cho các hình thức tổ chức sản xuất và các phân khúc sản phẩm thêu ren khác nhau trên địa bàn.

Phương pháp phân tích số liệu bao gồm:

  • Phương pháp thống kê mô tả và so sánh chuỗi thời gian nhằm lượng hóa tốc độ tăng trưởng kinh tế và biến động lao động;
  • Phương pháp tính toán hệ thống chỉ tiêu kinh tế như Giá trị sản xuất (Gross Output - GO), Chi phí trung gian (Intermediate Cost - IC), Thu nhập hỗn hợp (Mixed Income - MI) và tỷ suất doanh thu trên chi phí;
  • Phương pháp phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT).

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác cả phương diện vi mô (hiệu quả tài chính từng hộ, cơ sở) lẫn phương diện vĩ mô (tác động kinh tế - xã hội trên toàn huyện).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực tế giai đoạn 2013-2015 ghi nhận 4 phát hiện quan trọng về thực trạng phát triển làng nghề thêu ren tại huyện Thường Tín:

Thứ nhất, quy mô lao động làng nghề thêu ren ghi nhận mức tăng trưởng liên tục. Số lượng lao động thêu ren tăng từ 11.401 người năm 2013 lên mức tăng 6,48% trong năm 2014 và tăng bứt phá 13,09% trong năm 2015, đạt tốc độ phát triển bình quân 109,73%/năm. Sự gia tăng này chứng minh nghề thêu có sức hút lao động nông nhàn mạnh mẽ, đóng góp lớn vào tổng số 30.564 lao động công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của toàn huyện.

Thứ hai, sự chuyển dịch cơ cấu đất đai và kinh tế nông thôn diễn ra nhanh chóng. Diện tích đất nông nghiệp giảm 378,14 ha (từ 60,45% năm 2013 xuống 57,47% năm 2015), trong khi diện tích đất phi nông nghiệp tăng tương ứng 339,39 ha để phục vụ mở rộng không gian tiểu thủ công nghiệp, giao thông và dịch vụ.

Thứ ba, hình thức tổ chức sản xuất còn mang nặng tính tự phát và phân tán. Trong tổng số mẫu điều tra, hộ sản xuất gia đình chiếm tỷ lệ áp đảo trên 85%, trong khi mô hình hợp tác xã (4 đơn vị) và doanh nghiệp (8 đơn vị) còn rất khiêm tốn. Khả năng tích tụ vốn thấp, nguồn vốn sản xuất chủ yếu là vốn tự có (chiếm trên 70%) và vay mượn từ người thân, tỷ lệ tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng còn hạn chế do thủ tục phức tạp và thiếu tài sản thế chấp.

Thứ tư, công tác xây dựng thương hiệu và kiểm soát môi trường chưa được đầu tư thỏa đáng. 100% các cơ sở thêu ren chưa đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể hay chỉ dẫn địa lý. Tại khâu giặt là và hoàn thiện sản phẩm, việc sử dụng hóa chất tẩy rửa như sô đa, oxy già công nghiệp chưa qua hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn đã gây ra nguy cơ ô nhiễm nguồn nước cục bộ tại các khu dân cư.

Thảo luận kết quả

Thực trạng gia tăng lao động và giá trị sản lượng thêu ren bắt nguồn từ nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm trang trí nội thất, tranh thêu nghệ thuật và quà lưu niệm du lịch trong nước lẫn xuất khẩu. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng là do năng suất lao động thêu thủ công phụ thuộc hoàn toàn vào tay nghề cá nhân, quy trình sản xuất kéo dài từ 1,5 đến 2 tháng cho một tác phẩm nghệ thuật.

Khi so sánh với kinh nghiệm phát triển làng nghề gốm Phù Lãng, đồ gỗ Đồng Kỵ tại tỉnh Bắc Ninh hay các làng nghề tại Hải Dương, huyện Thường Tín chưa hình thành được các cụm công nghiệp làng nghề đồng bộ để tách khu vực sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư. Mặc dù máy thêu công nghiệp hiện đại có năng suất gấp 1.000 lần thêu tay, nhưng giá trị thẩm mỹ độc bản của đường kim mũi chỉ truyền thống Quất Động vẫn là lợi thế cốt lõi không thể thay thế.

Trong nghiên cứu, các dữ liệu tài chính có thể được trực quan hóa hiệu quả qua biểu đồ so sánh cơ cấu chi phí trung gian (IC) và giá trị sản xuất (GO). Việc phân tích bảng số liệu hạch toán chi phí cho thấy dòng tranh thêu cao cấp có tỷ suất lợi nhuận trên chi phí đạt mức trên 35%, cao hơn đáng kể so với các mặt hàng gia công may mặc thông thường. Điều này khẳng định định hướng phát triển sản phẩm tinh xảo, nghệ thuật là con đường sống còn của làng nghề.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy phát triển làng nghề thêu ren truyền thống huyện Thường Tín một cách bền vững đến năm 2020 và tầm nhìn xa hơn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện quy hoạch không gian sản xuất và thực thi chính sách hỗ trợ: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng 26 điểm công nghiệp làng nghề và nâng cấp 6 cụm công nghiệp hiện có (gồm Liên Phượng, Hà Bình Phương, Quất Động, Lưu Xá, Duyên Thái, Hà Hồi). Áp dụng triệt để Nghị định 66/2006/NĐ-CP và Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội nhằm hỗ trợ 100% các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm di dời ra cụm công nghiệp thông qua chính sách miễn giảm tiền thuê đất trong 3-5 năm đầu. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Thường Tín phối hợp cùng Sở Công Thương Hà Nội.

  2. Đa dạng hóa mô hình tổ chức và mở rộng kênh huy động vốn: Vận động tối thiểu 30% các hộ sản xuất cá thể liên kết thành lập tổ hợp tác hoặc hợp tác xã kiểu mới giai đoạn 2016-2020. Tận dụng Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg, hỗ trợ các cơ sở thêu ren tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi với hạn mức tăng 20-30% mỗi năm để đầu tư trang thiết bị in kẻ, máy may viền hiện đại. Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Chính sách xã hội, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp huyện và các chủ cơ sở sản xuất.

  3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đăng ký bảo hộ thương hiệu: Tổ chức từ 15 đến 20 lớp truyền nghề và bồi dưỡng kỹ thuật thêu nâng cao mỗi năm, hướng tới mục tiêu 80% lao động làng nghề được cấp chứng chỉ tay nghề. Tiến hành thủ tục đăng ký nhãn hiệu tập thể Thêu ren Thường Tín tại Cục Sở hữu trí tuệ trong giai đoạn 2016-2018 nhằm bảo vệ uy tín sản phẩm trên thị trường quốc tế. Chủ thể thực hiện: Phòng Kinh tế huyện Thường Tín chủ trì kết hợp với các nghệ nhân và Hiệp hội Làng nghề.

  4. Phát triển du lịch làng nghề gắn với xử lý môi trường sinh thái: Xây dựng các tuyến du lịch trải nghiệm kết hợp tham quan làng nghề thêu Quất Động với 99 điểm di tích lịch sử đã xếp hạng trên địa bàn huyện (như Chùa Đậu, đền thờ Nguyễn Trãi). Đồng thời, đầu tư trạm xử lý nước thải tập trung với công suất đáp ứng 100% lượng nước thải từ công đoạn giặt là, tẩy nhuộm trước năm 2020. Chủ thể thực hiện: Phòng Văn hóa Thông tin, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thường Tín cùng các doanh nghiệp lữ hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách địa phương: Sử dụng các số liệu thực chứng về 45 làng nghề được công nhận và cơ cấu kinh tế tại 28 xã để xây dựng quy hoạch phân vùng công nghiệp làng nghề, ban hành cơ chế khuyến công và phân bổ ngân sách hỗ trợ môi trường giai đoạn trung hạn.

  • Chủ doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ sản xuất thêu ren: Tham khảo phương pháp tính toán chi phí trung gian (IC) và thu nhập hỗn hợp (MI) để tối ưu hóa bài toán quản trị tài chính, cải tiến mẫu mã theo thị hiếu xuất khẩu và chủ động đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ cho sản phẩm.

  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển: Tiếp cận một khung phân tích khoa học kết hợp giữa lý thuyết kinh tế vĩ mô với hệ thống chỉ tiêu định lượng (GO, IC, MI, SWOT) trong nghiên cứu thực nghiệm làng nghề truyền thống tại đồng bằng sông Hồng.

  • Doanh nghiệp lữ hành và tổ chức xúc tiến thương mại du lịch: Khai thác tiềm năng văn hóa của 385 di tích cổ và làng nghề thêu Quất Động để xây dựng tour du lịch làng nghề di sản, đẩy mạnh kênh bán hàng và xuất khẩu sản phẩm mỹ nghệ tại chỗ.

Câu hỏi thường gặp

Nghề thêu ren truyền thống huyện Thường Tín có bề dày lịch sử và điểm độc đáo nào nổi bật? Nghề thêu có lịch sử từ thế kỷ 17 do cụ Lê Công Hành truyền dạy, tập trung tại làng Quất Động. Điểm độc đáo nằm ở kỹ thuật thêu tay tinh xảo, sử dụng đường kim mũi chỉ kết hợp màu sắc hài hòa tạo nên các tác phẩm nghệ thuật, tranh phong cảnh có giá trị thẩm mỹ cao mà máy móc công nghiệp không thể sao chép trọn vẹn.

Cơ cấu kinh tế và thu nhập của huyện Thường Tín biến động ra sao trong giai đoạn 2013-2015? Kinh tế huyện tăng trưởng bình quân 18%/năm, chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp hóa với tỷ trọng công nghiệp, xây dựng đạt 54,5%, thương mại dịch vụ chiếm 34,5%, nông nghiệp còn 11%. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 23,6 triệu đồng năm 2013 lên 27,5 triệu đồng năm 2015, giảm 845 hộ nghèo.

Luận văn đã tiến hành khảo sát thực tế với quy mô mẫu và địa bàn như thế nào? Tác giả đã chọn mẫu khảo sát gồm 98 đối tượng (58 hộ sản xuất, 4 hợp tác xã, 8 doanh nghiệp, 8 cán bộ quản lý và 20 khách hàng tiêu dùng). Địa bàn khảo sát tập trung tại 4 xã đại diện cho nghề thêu ren truyền thống của huyện gồm Quất Động, Dũng Tiến, Thắng Lợi và Nguyễn Trãi.

Khâu nào trong quy trình sản xuất thêu ren gây nguy cơ ô nhiễm môi trường lớn nhất? Khâu giặt là và hoàn thiện sản phẩm gây ô nhiễm môi trường lớn nhất do sử dụng hóa chất sô đa để tẩy rửa, ngâm nước oxy già công nghiệp và hồ cứng. Do phần lớn cơ sở sản xuất nhỏ lẻ chưa có hệ thống xử lý nước thải, nước thải xả trực tiếp ra hệ thống mương rãnh sinh hoạt.

Giải pháp then chốt nào giúp làng nghề thêu ren mở rộng thị trường và nâng cao giá trị gia tăng? Giải pháp then chốt là đẩy mạnh đa dạng hóa mẫu mã theo thị hiếu xuất khẩu, đăng ký nhãn hiệu tập thể cho làng nghề và tích hợp mô hình sản xuất gắn liền với các tour du lịch trải nghiệm di sản văn hóa, tận dụng 99 di tích đã xếp hạng trên địa bàn huyện Thường Tín.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề truyền thống trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
  • Đánh giá sắc bén thực trạng phát triển làng nghề thêu ren Thường Tín giai đoạn 2013-2015, ghi nhận mức tăng trưởng lao động nghề thêu 13,09% năm 2015 và đóng góp quan trọng vào mức thu nhập bình quân 27,5 triệu đồng/người/năm.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn tồn tại về hình thức sản xuất manh mún với hơn 85% là hộ cá thể, thiếu vốn đầu tư công nghệ, ô nhiễm khâu giặt là và chưa có thương hiệu bảo hộ.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ về thể chế, quy hoạch 26 điểm công nghiệp làng nghề, đào tạo 15-20 lớp nghề mỗi năm và gắn kết phát triển du lịch văn hóa.
  • Xác định lộ trình triển khai cụ thể đến năm 2020 nhằm bảo tồn giá trị di sản và đưa làng nghề thêu ren Thường Tín phát triển theo hướng hiện đại, bền vững.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm đến mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế làng nghề truyền thống có thể liên hệ thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam để tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu giá trị này.