Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lược sử nghiên cứu về sáng tạo Khái niệm sáng tạo hoàn toàn không phải là mới, nguồn gốc của tử này được bất nguồn từ chử “Creare” trong tiếng Latinh. Đã từ rất lầu, người ta đánh giá vai trò rất quan trong của tư duy và có ý định khoa học hoá nó, TY “Gristic"” hay là “Ars inveniendi” lấn đầu tiên xuất hiện trong nhứng cổng trình của nhà toán hoạc Hy lap, sống vào nửa cuối thế ki thứ II, Papp ở Alexandri. Ong chính là người đã dat nền móng khởi đẩu cho khoa học về xá ng tao, Sau đó nhà toán học và triết học nổi tiếng như Descartes, Leibnitz, Bernard Bolzano đã cố gấng thành lap hệ thống Oristic.
Ngày nay tâm lí học đã hiểu được bản chất, cấu trúc củng như vai trò của sáng tao trong sư phát triển của cá nhần và xã hỏi. Các nha tầm lí hoc ngày cả ng có trong tay những bỏ trắc nghiém có khả năng đo mót cách chính xác vể tiểm năng sáng tao của con người ở các độ tuổi khác nhau. Những hiểu hiết vé sáng tạo đã được phản ánh vào chương trình, nôi dung và phương pháp giáo dục và giảng day ở trong nhà trưởng của nhiều nước Il, Các khái niệm chung về sáng tạo 1. Những quan diém khác nhau về sáng tạo Trước hết nói đến quan niệm của các nhà phân tâm học vé sáng tao.
Các nhà phần tầm học đả chon đối tượng nghiền cứu là đời sống vó thức và các biểu hiện của nó.Theo Freud thì trò chơi và tưởng tượng là hình thức biểu hiền của vớ thức và những thay đổi hiện thực đang đến với nghề thuát. Khi lí giải về sư sáng tạo của các nhà thơ, Freud viết, “That là khong chính đáng nếu đứa bé nhìn vào cái thế giới do nó xây dưng một cách không nghiêm túc, nó trút đấy nhiều tỉnh thần. Cái đổi lập với trò chơi khóng phải là tính nghiề m tức mà là hiện thực, đứa bé dù rất ham mé song vẫn phần biết rõ cái thế giới mà nó xây dựng với thế giới hiển thực và muốn tìm chổ dựa cho những khách thể và những quan hé được tưởng tương ra trong những đối Theo quan điểm của nhà vật lí vĩ đại A. Einstein thì sáng tạo là đặt vấn dé, ông cho là viée giải quyết vấn để chỉ là kỹ năng toán học hay kinh nghiém, còn nêu lén được những vấn để mới, những khả năng mới nhìn nhận những vấn để cử với mot góc đó mới đòi hỏi phải có trí tưởng tương và nó đánh dấu bước tiến bộ vượt bác của khoa học.
Củng quan điểm với ông, B.Bernard củng chỉ ra rằng, “Tim ra vấn để khó hơn nhiều so với giải quyết nó. Bởi vì cái thứ nhất đòi hỏi phải có trí tưởng tượng, còn cái thứ hai đòi hỏi sự thành thạo mà théi". Theo nhà tam lí học Mỹ Willson, “Sáng tao là quá trình mà kết quả tạo ra những kết hợp mới cẩn thiết tử các ý tưởng dang nang lượng, các đơn vị thông tin, các khách thể hay tập hợp của 2, 3 các yếu tố nều ra”. Giáo sư đại hoc Bấc Kinh, Chu Quang Tiểm trong cuốn sách “Tam lí văn nghẻ "ông định nghĩa sáng tao là “Căn cứ vào những ý tưởng đã có sẵn làm tai liẻu rổi cất xén chon loc tổng hợp để tạo thà nh một hình tượng mới”.X Vưgốtxki coi hoạt đồng sáng tạo là hoạt đóng cao nhất của con người.
Chính hoạt động sáng tao của con người đã làm cho nó thành mót sinh vật hướng vé tương lai, xây dựng tương lai và cải biến hiện tại của mình. Ong nhận định "Bó não không chỉ là cơ quan giữ lại và tái hiện kinh nghiẻ m của chúng ta nó còn là cơ quan phối hợp. chỉnh lí mót cách sáng tạo và xây dung nén tình thế mới và hành vi mới bằng những yếu tố kính nghiệ m dé”. Thóng thường.
chúng ta có quan niệm sáng tao là lĩnh vực của mét số ít người, đó là những thiền tài đã sáng tác ra những tác phẩm nghé thuật vĩ đại hoặc nghĩ ra cải tiến nào đó trong kĩ thuật. Nhưng Vưgốtxki đã khẳng định “Su sáng tao thal ra khóng chỉ có ở nơi tạo ra nó tao ra những tác phẩm lịch xử vĩ đai mà ở khấp nơi nào con người cũng tưởng tướng, phối hớp, biến đổi và tạo ra cái gi mới, dù cho cái mới ấy hé nhỏ đến đầu đi nửa so với những sáng tạo của các thiền tài. Trong đời sống hằng ngày xung quanh ta, sáng tạo là một điểu kiện cẩn thiết của sư tổn tại, và tất cả những gì vượt ra khuôn khổ cũ và chứa đưng dù chỉ mót nét của cái mới thì nguồn gốc cửa nó đểu do quá trình sáng tao của con người. Ở Việt Nam, cớ nhiều định nghĩa khác nhau về sáng tạo.
Trong từ điển Tiếng Viết, sáng tao là tìm ra cái mới giải quyết cái mới, không bị gò bó, phụ thuốc vào cái đã có. Theo từ điển triết học "Sáng tạo là quá trình hoat đóng cửa con người tạo ra những giá trị vé vật chất, tinh thần. Các loai hình sáng tao được xác định bởi đặc trưng nghé nghiệp như khoa học ky thuát, tổ chức quân sự. Có thể nói xấ ng tạo cố mặt trong moi lĩnh vực của thế giới vật chất và tính thần".
Trấn Hiếp và Đổ Long trong “Sổ tay tâm lí hoc” có viết “Sáng tạo là hoạt đóng tao lap phát hiển những giá trị vat chất và tinh than, Sáng tao đôi hỏi cá nhân phải phát huy năng lực, trì thức, kỹ năng. và với điểu kién như vậy mới tạo nền sản phẩm mới đóc đáo, sâu sắc". Theo tiến sĩ Nguyễn Huy Tú "Sáng tao thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn để. Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực nhờ dé con người trén cơ sở tư duy của mình và kinh nghiệm độc lập để tạo ra những ý tưởng mới độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xähói.
Ở đó người sáng tạo gat bở được các giải pháp truyền thống để đưa ra những giải pháp mới, độc đáo và thích hợp cho vấn để dat ra". Trong bai nghiền cứu này, chúng tới định nghĩa sáng tao là quá trình con người phối hợp, biến đổi và xây dựng nên những tình thế mới, hành vi mới, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xd hội bằng tự duy độc lập những kinh nghiệm sdn có của mình 2. Cơ sở não bộ của sáng tạo Theo phó giáo sư Trần Trọng Thủy giữa bán cầu não trái và bán cầu não phải có su khác biết nhất định. Nếu như trước đầy người ta cho rằng bén cầu não trái là "ưu thế” côn bán cẩu não phải là “không có ưu thế” thì bây gid cẩn phải nhìn nhân lại điểu này.
Sư khác biét về chức nãng của hai bán cầu não được đánh giá bởi hoạt đóng của mdi bán cấu não; bán cấu não trái là trung tầm điểu khiển các chức nang trí tuệ như ngồn ngữ, tính toán, trí nhớ. Bán cẩu não phải là trung tam điểu khiển các chức năng như trực giác, thái đó, cảm nhận âm nhac, các hoạt động và có sự phối hợp cơ thể. Tư duy của não phải là tố chất của su sáng tạo. Các chức năng của não trái có đắc điểm là tuần tư và hé thống trong khi não phải có đặc điểm là ngdu hứng và tản mạn.
Não trái có thể ghép các mảnh rời rac thành một tổng thể cớ tổ chức, trong khi não phải theo bản năng nhìn thấy cái tổng thể trước, sau đó mới đến từng phần nhỏ. Hai bán cầu não cần phải cần bằng và phối hợp với nhau để con người phát triển toàn diện, hài hoà và sức khoẻ tinh thần cửng như thể chất được cân bằng (A. Chú ng ta đang sống trong một xã hỏi “của não trái”. Nhà trường toàn tầm hướng tới sự thăng tiến và tồn vinh các hoạt động của não trái, trong khi hy sinh sự phát triển của các hoạt đóng thuộc về chức năng não phải.
Điều này không chỉ han chế các tải năng trẻ trong việc học, thể hiện bản thân qua những hoạt độ ng sáng tạo thuộc thị giác, khổng gian, thể chất và ngdu hứng. Những đặc điểm của sáng tạo Sáng tao được bóc lô ở 3 tính chất hay 3 thuộc tính cơ bản: tính mới mẻ, tính đóc lắp và tính tối lợi. - = Sáng tạo bộc lộ ở tính mới mẻ trong sản phẩm của tư duy hay hành đóng. Tính mới mẻ này có thể là đối với cá nhần hoặc đối với xã hồi.
Khi để cập đến sự sáng tạo của người trưởng thành, của nhà khoa học, nhà phát minh sáng chế. là nói đến tính mới mẻ trén bình diện xã hộ ¡. GO lứa tuổi học trò trong quá trình sáng tao, cái mới được phát hiện không nhất thiết phải có ý nghĩa toàn xã hội mà chỉ là đối với bản thần mình. Tuy nhién, bẩn thân quá trình sáng tạo đó có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với xã hội.
Tâm lí học đã xác định được tính tương tự giửa quá trình sáng tạo của học sinh và quá trình sáng tạo của các nhà khoa học, sáng chế, sáng tác. Sự khác nhau ở đây chỉ là vấn để cẩn giải quyết ở trình độ tự lập trong điển tiến các giai đoan của quá trình sáng tao, còn cơ chế din đến cái mới về nguyén tắc khổng có sự khác biết nào giữa sáng tạo của học sinh và người lớn. Vi vay, mặc dù thưởng không mang lại cái mới cho toàn xã hội nhưng hoc tap sáng tao của học sinh cố ý nghĩa xã hội to lớn vì ở đó nhân cách trẻ được rẻn luyện để chứ ng trở thành người sáng tạo vế sau này - Tinh độc lap trong tư duy và hành động là đặc trưng thứ 2 của sáng tạo. Chính tư duy đóc lập làm tiền để nảy sinh những ý tưởng mới, phương pháp mới, giải pháp mới.
Người sáng tạo luôn có khuynh hướng tránh lặp lại cách giải quyết cũ đã có bằng sự hoài nghi, muốn từ bỏ cách truyền thống, thé m chí tử bỏ cả mục đích truyền thống. Họ cố gắng đưa ra các ý tưởng mới, cách thức mới để thực thi ý tưởng đóc đáo, khác lạ ấy của mình. - Tinh tối lợi được thể hiện trong giá trị sản phẩm mới. Quá trình sáng tạo tao ra sản phẩm mới luôn có mối liền quan đến hiện thực, sáng tạo không phải là sự đoạn tuyết hiện thực, ma là sự phản ánh hiện thực tối đa nhưng trong tình huống mới, chất lượng mới và mục đích mới.