mở đầu cho dịch vụ Thẻ hình thành là: hợp đồng làm đại lý chi trả Thẻ Visa giữa NH Pháp BFCE và NH Ngoại Thương (VCB) vào năm 1990, tiếp sau đó là NH Sài Gòn Thương Tín cũng liên kết với trung tâm thanh toán Thẻ Visa để làm đại lý thanh toán. Với chính sách mở cửa của Nhà nước, sau đó gia nhập WTO, các dự án đầu tư, các tập đoàn công ty nước ngoài tham gia vào thị trường kinh tế Việt Nam ngày càng nhiều. Và đi kèm với điều đó là các dịch vụ, trong đó Thẻ thanh toán là một phương tiện không thể thiếu. Đã hình thành thị trường Thẻ Việt Nam, dần dần được hoàn thiện và ngày càng phát triển.
Khái niệm và phân loại Thẻ thanh toán: 1. Khái niệm thẻ thanh toán: Thẻ là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do ngân hàng hoặc các tổ chức phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hay các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư của tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa NHPHT hoặc TCPHT và chủ thẻ. Hoá đơn thanh toán thẻ chính là giấy nhận nợ của chủ thẻ đối với đơn vị chấp nhận thẻ. Đơn vị chấp nhận thẻ và đơn vị cung ứng dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thông qua NH phát hành thẻ và NH thanh toán thẻ.
Trong đó, tổ chức phát hành thẻ theo Quyết định 20/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN quy định ngoài NH còn có thể là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng cũng có thể được phát hành thẻ khi các tổ chức này được phép hoạt động ngân hàng trong đó có hoạt động phát hành thẻ. Phân loại: Có nhiều cách để phân loại thẻ thanh toán, trong bài chủ yếu đề cập đến các loại thẻ được phân loại theo hai góc độ sau: Luan van 6 Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ: - Thẻ tín dụng (Credit Card): Chủ thẻ được NH cấp cho một hạn mức tín dụng và không phải trả lãi nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đó đúng kỳ hạn. Dùng để mua sắm HH - DV tại các cửa hàng, siêu thị, khách sạn…. có chấp nhận loại thẻ này.
- Thẻ ghi nợ (Debit Card): Là phương tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt trên cơ sở số tiền có trong tài khoản tại ngân hàng. - Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): Là một hình thức của thẻ ghi nợ song chỉ có một chức năng duy nhất là rút tiền mặt tại các máy ATM hoặc ở ngân hàng. - Thẻ lưu trữ giá trị: Được phát hành bằng cách nộp một số tiền nhất định để mua một thẻ, mỗi lần sử dụng thì số tiền trên thẻ bị trừ dần. Thẻ được sử dụng để mua bán hàng hóa có giá trị tương đối nhỏ như xăng dầu ở các trạm bán xăng tự động, gọi điện thoại, thanh toán phí cầu đường.
Phân loại theo phạm vi sử dụng: Luan van 7 - Thẻ nội địa: Có phạm vi sử dụng giới hạn trong lãnh thổ một quốc gia. Do vậy, đồng tiền sử dụng đối với thẻ nội địa phải là đồng nội tệ của nước đó. - Thẻ quốc tế (International Card): Không chỉ dùng tại quốc gia nơi phát hành thẻ mà còn dùng được trên phạm vi quốc tế. Để phát hành được loại thẻ này thì ngân hàng phát hành thẻ phải có mối liên hệ với các ngân hàng quốc tế.
Vai trò của thẻ: - Đối với người sử dụng thẻ: Linh hoạt và tiện lợi trong thanh toán ở trong và ngoài nước, tiết kiệm thời gian mua, giá trị thanh toán cao hơn, khoản tín dụng tự động, tức thời, bảo vệ người tiêu dùng, rút tiền mặt, kiểm soát được chi tiêu. - Đối với đơn vị chấp nhận thẻ: Đảm bảo chi trả; Tăng doanh số bán hàng hóa, dịch vụ và thu hút thêm khách hàng; Nhanh chóng thu hồi vốn nợ; An toàn và bảo đảm; Nhanh chóng giao dịch với khách hàng, tăng uy tín; Giảm chi phí bán hàng; Mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng. - Đối với ngân hàng: Tăng doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng; Dịch vụ toàn cầu; Hiệu quả cao trong thanh toán; Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ khách hàng; Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng; Tăng nguồn vốn cho khách hàng; Tăng cường mối quan hệ, uy tín cho ngân hàng. - Đối với nền kinh tế - xã hội: Nâng cao vai trò của hệ thống ngân hàng; Giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông; Tăng nhanh khối lượng chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế; Thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước; Thực hiện biện pháp “kích cầu” của nhà nước; Cải thiện môi trường văn minh thương mại, thu hút khách du lịch và đầu tư nước ngoài, mở rộng hội nhập.
NGHIỆP VỤ PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ CỦA NHTM. Các chủ thể tham gia vào quá trình phát hành và thanh toán thẻ: Ngân hàng phát hành/ Tổ chức phát hành thẻ: Là NH, tổ chức được NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ phát hành thẻ, cấp thẻ cho chủ thẻ là cá nhân, Luan van 8 tổ chức sử dụng; Chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc thanh toán cuối cùng với chủ thẻ. Đối với thẻ quốc tế, phải được phép và tuân theo những quy định của TCTQT đó. Ngân hàng thanh toán/ Tổ chức thanh toán thẻ: Là NH, tổ chức chấp nhận các giao dịch thẻ như một phương tiện thanh toán thông qua việc ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với các điểm cung ứng HH-DV.
NHTT/TCTT thẻ đóng vai trò là trung gian giao dịch thẻ, được các NHPH/TCPH thẻ ủy quyền hoặc là thành viên của một tổ chức thẻ. Một NH có thể vừa đóng vai trò thanh toán vừa đóng vai trò phát hành thẻ. Chủ thẻ: Là cá nhân, tổ chức được NH cho phép sử dụng thẻ để thanh toán, rút tiền mặt bằng thẻ và các giao dịch khác tại điểm chấp nhận thẻ (ATM/POS). Bao gồm: Chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ.
Chủ thẻ chính là người đứng tên xin cấp thẻ và được NHPH cấp thẻ để sử dụng, chủ thẻ phụ là người được cấp thẻ theo đề nghị của chủ thẻ chính. Đơn vị chấp nhận thẻ: Là các thành phần kinh doanh HH,DV có ký kết với Ngân hàng thanh toán về việc chấp nhận thanh toán thẻ như: nhà hàng, khách sạn, cửa hàng. Các đơn vị này phải trang bị máy móc kỹ thuật để tiếp nhận thẻ thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ, trả nợ thay cho tiền mặt. Các chủ thể trung gian: + Tổ chức chuyển mạch thẻ: Là tổ chức trung gian cung ứng dịch vụ kết nối hệ thống xử lý giao dịch thẻ cho các TCPHT, TCTTT và ĐVCNT theo thoả thuận bằng văn bản giữa các bên liên quan.
Ví dụ: Banknetvn, Smartlink, VNBC. + Tổ chức thẻ quốc tế: Cung cấp hệ thống thanh toán thẻ toàn cầu, có danh sách các SP thẻ để các NH thành viên đăng ký phát hành, có vai trò là thiết lập các quy tắc và trật tự cho việc phát hành và thanh toán thẻ thống nhất thành một hệ thống toàn cầu. Ví dụ: Visa, MasterCard, Amex, …. Các nghiệp vụ cơ bản trong kinh doanh thẻ của NHTM: Với 5 chủ thể chính trên thị trường thẻ thì hoạt động kinh doanh thẻ có thể được khái quát theo mô hình sau: POS/EDC (3) ĐVCNT (4) (10) (9) Chủ Thẻ NHTT ATM (2) (1) (8) (5) (7) (6) TC.
TTTQT NHPH (Visa; Master.) Sơ đồ 1: Mô hình tổng quát về phát hành và thanh toán thẻ (1) Khách hàng đến NHPHT để đăng ký sử dụng thẻ. (2) NHPHT xem xét hồ sơ phát hành thẻ của khách hàng, nếu đáp ứng các điều kiện, NHPHT sẽ cấp thẻ cho khách hàng sử dụng. (3) Chủ thẻ sử dụng Thẻ thực hiện giao dịch mua hàng hoá dịch vụ tại ĐVCNT qua thiết bị POS hoặc rút tiền mặt tại máy ATM. (4) Khi chủ thẻ thực hiện giao dịch tại POS hoặc tại máy ATM, dữ liệu giao dịch sẽ được tự động chuyển tới NHTTT để xin cấp phép.
(5) NHTTT tiếp tục chuyển dữ liệu đến TCTQT (nếu là thẻ quốc tế) hoặc Công ty chuyển mạch thẻ (nếu là thẻ nội địa) để xin cấp phép. (6) Các tổ chức này sẽ chuyển dữ liệu về giao dịch đến NHPHT nơi chủ thẻ xin cấp thẻ ban đầu để xin cấp phép. (7) NHPHT kiểm tra tính hợp lệ, hạn mức giao dịch và gửi thông tin phản hồi về cấp phép giao dịch cho TCTQT hoặc công ty chuyển mạch thẻ. (8) TCTQT hoặc công ty chuyển mạch Thẻ chuyển tiếp phản hồi cấp phép đến NHTTT.
(9) NHTTT sẽ chuyển phản hồi cấp phép đến ĐVCNT hoặc máy ATM Luan van 10 (10) Căn cứ vào phản hồi cấp phép, ĐVCNT sẽ chấp nhận thanh toán hoặc từ chối giao dịch, tại máy ATM sẽ tự động trả tiền hoặc thu giữ thẻ. Như vậy, về phía ngân hàng, hoạt động kinh doanh thẻ tập trung chủ yếu vào hai lĩnh vực là nghiệp vụ phát hành thẻ và nghiệp vụ thanh toán thẻ. Nghiệp vụ phát hành thẻ: Bao gồm việc triển khai và quản lý 3 quá trình: phát hành thẻ, sử dụng thẻ và thu nợ KH. Mỗi một phần đều liên quan rất chặt chẽ đến việc phục vụ KH và quản lý rủi ro cho NH.
Các TCPH, NHPH thẻ phải xây dựng các quy định cụ thể về việc phát hành, sử dụng thẻ và thu nợ. Cơ bản hoạt động phát hành thẻ của các NHTM gồm các vấn đề sau: - Hoạt động nghiên cứu thị trường và tiếp thị đưa sản phẩm vào thị trường. - Thẩm định khách hàng. - Cấp hạn mức tín dụng đối với chủ thẻ tín dụng.
- Thiết kế thẻ và tổ chức mua thẻ trắng - In nổi, mã hoá và cấp số PIN cho chủ thẻ. - Quản lý thông tin về khách hàng. - Quản lý tình hình sử dụng thẻ của khách hàng. - Quản lý tình hình thu nợ đối với khách hàng.
- Cung cấp các dịch vụ khách hàng. - Thanh toán bù trừ với các Tổ chức thẻ quốc tế. Nguyên tắc phát hành: Dựa trên cơ sở pháp lý nước sở tại, quy định của các TCTQT và nguyên tắc ban giám đốc NHPHT quy định. Đồng tiền sử dụng phải tuân thủ theo NHNN quy định.
Sau khi phát hành, thẻ được gửi đến chủ thẻ và không được làm lộ mã số cá nhân (PIN) chủ thẻ. + Nếu là thẻ tín dụng: Dựa trên nguyên tắc cho vay ngắn hạn.