phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ. - Chƣơng 2: Thực trạng rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. - Chƣơng 3: Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc.
Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính c 17 of 68. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI THẺ 1.
Khái niệm thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng đƣợc xem là một phƣơng tiện thanh toán hiện đại và tiên tiến trên thế giới. Có nhiều khái niệm về thẻ nhƣng chúng ta có thể hiểu thẻ ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong ngân hàng. Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam (NHNN), khái niệm về thẻ tại thông tƣ số 19/2016/TT- NHNN ngày 30/06/2016 Quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, thì thẻ ngân hàng đƣợc hiểu nhƣ sau: Thẻ ngân hàng là “phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận. Tổ chức phát hành thẻ (TCPHT) là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đƣợc thực hiện phát hành thẻ theo quy định tại điều 9 thông tƣ số 19/2016/TT- NHNN ngày 30/06/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam.
Phân loại thẻ * Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ có thể chia thành thẻ nội địa và thẻ quốc tế. - Thẻ nội địa: là thẻ đƣợc tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành để giao dịch trong lãnh thổ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thẻ đƣợc sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT), gửi, nạp, rút tiền mặt và sử dụng các dịch vụ khác theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ trên lãnh thổ Việt Nam. - Thẻ quốc tế: là thẻ đƣợc tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành để giao dịch trong và ngoài lãnh thổ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hoặc là thẻ đƣợc tổ chức nƣớc ngoài phát hành và giao dịch trong lãnh thổ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Do phạm vi hoạt động trải khắp thế giới nên quy trình hoạt động, việc kiểm soát tín dụng và yêu cầu thủ tục thanh toán của thẻ quốc tế thƣờng phức tạp.Thẻ quốc tế đƣợc sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại đơn vị chấp nhận thẻ Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc. Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính c 18 of 68. 7 (ĐVCNT), gửi, nạp, rút tiền mặt và sử dụng các dịch vụ khác trên lãnh thổ Việt Nam hoặc bằng đồng Việt Nam và các đồng tiền khác đƣợc tổ chức thanh toán thẻ chấp nhận làm đồng tiền thanh toán ngoài lãnh thổ Việt Nam.
* Căn cứ vào công nghệ sản xuất có thể chia thành 3 loại thẻ: Thẻ khắc chữ nổi, thẻ băng từ và thẻ thông minh. - Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card):là loại thẻ sơ khai ban đầu, đƣợc làm bằng nhựa dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi trên thẻ. Công nghệ này hiện nay hầu nhƣ không đƣợc sử dụng vì kỹ thuật thô sơ, tính bảo mật k m, d bị lợi dụng làm giả. - Thẻ từ (Magnetic Stripe):là loại thẻ có dải băng từ ở mặt sau thẻ chứa đựng các thông tin cần thiết liên quan đến thẻ và chủ thẻ đã đƣợc mã hóa.
Loại thẻ này hiện đƣợc sử dụng phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, đến nay thẻ từ cũng bộc lộ những nhƣợc điểm của nó nhƣ số lƣợng các thông tin đƣợc mã hóa không nhiều, các thông tin mang tính cố định. Kỹ thuật này hiện nay cũng đã lạc hậu, do vậy tính bảo mật của thẻ từ cũng thấp và d bị đánh cắp các thông tin để làm giả thẻ dẫn đến rủi ro cho chủ thẻ, cho ngân hàng, cho các ĐVCNT và cho nền kinhtế. - Thẻ thông minh (Smart Card – thẻ Chip):là loại thẻ dựa trên công nghệ, kỹ thuật vi xử lý nhờ gắn một chip điện tử theo nguyên tắc xử lý nhƣ một máy tính nhỏ thay cho băng từ.
Loại thẻ này hiện đang đƣợc các NHPH sử dụng để cung cấp cho khách hàng vì nó khắc phục nhiều nhƣợc điểm của thẻ từ, đảm bảo tính an toàn cao. * Căn cứ vào tính chất thanh toán có thể chia thành thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ. - Thẻ tín dụng (credit card): là thẻ cho ph p chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã đƣợc cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ, cho ph p chủ thẻ đƣợc chi tiêu trƣớc tại tất cả các điểm có hiệu lực của thẻ cả trong và ngoài nƣớc sau đó mới trả tiền. Nếu việc hoàn trả tiền chi trƣớc nằm trong khoảng thời gian nhất định mà ngân hàng cho ph p thì chủ thẻ không phải trả lãi, ngoài thời gian đó chủ thẻ phải trả phí và lãi cho ngân hàng theo quy định.
Khi toàn bộ số tiền phát sinh đƣợc trả lại cho ngân hàng, hạn mức tín dụng của chủ thẻ đƣợc khôi phục nhƣ ban đầu. Hạn mức tín dụng là số tiền ngân hàng cấp cho chủ thẻ tín dụng sử dụng dựa trên tình hình tài chính (thu nhập, tình hình tài chính…) của chủ thẻ. Ngân hàng có thể mở rộng kinh doanh loại thẻ này bởi nó có sức thu hút khách hàng do những tiện ích mà nó mang lại. Tuy nhiên vấn đề đặt ra khi mà giao Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc.
Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính c 19 of 68. 8 dịch của thẻ tín dụng đƣợc thực hiện trong một không gian, thời gian rộng, việc quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ trở nên cấp thiết và gặp không ít những khó khăn. Do vậy đòi hỏi phải tăng cƣờng quản lý những rủi ro đối với thẻ tín dụng, nhất là khi giao dịch của thẻ tín dụng đƣợc mở rộng cả về không gian và thời gian giao dịch với nhiều điểm chấp nhận thanh toán cả trong và ngoài nƣớc.
Rủi ro không loại trừ thông tin thẻ bị kẻ xấu đánh cắp, chủ thẻ ở một nƣớc, còn thẻ của mình lại đang đƣợc chi tiêu tại một nƣớc khác. - Thẻ ghi nợ (Debit Card) là thẻ cho ph p chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền và hạn mức thấu chi (nếu có) trên tài khoản thanh toán của chủ thẻ mở tại tổ chức phát hành. Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản là thẻ ghi nợ Online và thẻ ghi nợ Offline - Thẻ ghi nợ Online là loại thẻ mà những thông tin về giao dịch của thẻ đƣợc kết nối trực tiếp với thiết bị điện tử đặt tại điểm chấp nhận thanh toán hoặc điểm rút tiền mặt tới ngân hàng phát hành. Giá trị những giao dịch đƣợc khấu trừ trực tiếp và ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ.
- Thẻ ghi nợ Offline là loại thẻ mà những thông tin giao dịch đƣợc lƣu tại máy điện tử của đơn vị chấp nhận thẻ và đƣợc chuyển đến ngân hàng phát hành muộn hơn; giá trị những giao dịch sẽ đƣợc khấu trừ vào tài khoản của chủ thẻ sau đó vài ngày. Việc kết nối các máy giao dịch tự động (Automatic Teller Machine – viết tắt là ATM) với nhau tạo nên một hệ thống ATM, cho ph p khách hàng mặc dù mở thẻ tại một ngân hàng nhất định nhƣng vẫn có thể giao dịch với máy ATM của nhiều ngân hàng khác nhau trong hệ thống ATM kết nối. Điển hình nhƣ hai hệ thống ATM lớn nhất thế giới là Cirrus của MasterCard và Plus của Visa cho ph p thẻ của nhiều định chế trung gian tín dụng khác kết nối, tạo nên một mạng lƣới ATM rộng khắp toàn cầu. Các loại thẻ ghi nợ cũng nhƣ thẻ tín dụng đều mang lại lợi ích cho ngƣời sử dụng và cũng là cơ hội cho ngân hàng mở rộng kinh doanh thẻ.
Tuy nhiên những rủi ro của loại thẻ này hiện cũng đang là vấn đề mà cả xã hội quan tâm, trong đó yêu cầu đặt ra là các ngân hàng phải tăng cƣờng quản lý rủi ro kinh doanh thẻ. Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc. Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính c 20 of 68.
CÁC CHỦ THỂ THAM GIA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ Hoạt động kinh doanh thẻ liên quan đến 4 chủ thể tham gia: Ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, chủ thẻ và các ĐVCNT. Đối với thẻ quốc tế còn thêm một thành phần nữa là các Tổ chức thẻ quốc tế. Mỗi chủ thể đóng vai trò quan trọng khác nhau trong việc thực hiện tính năng phƣơng tiện thanh toán. Tổ chức thẻ quốc tế: (viết tắt là TCTQT) là tổ chức đƣợc thành lập ở nƣớc ngoài theo quy định của pháp luật nƣớc ngoài, có thỏa thuận với các TCPHT, Tổ chức thanh toán thẻ và các bên liên quan khác để hợp tác phát hành và thanh toán thẻ có mã tổ chức phát hành thẻ do TCTQT cấp phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và cam kết quốc tế.
Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn có mạng lƣới hoạt động rộng khắp và đạt đƣợc sự nổi tiếng với thƣơng hiệu và sản phẩm đa dạng nhƣ: thẻ MasterCard, thẻ Visa, thẻ American Express, JCB, thẻ Diners Club, công ty Mondex….