Tổng quan luận án
Hoạt động xuất bản giữ vị trí trọng yếu trong đời sống văn hóa, tư tưởng và xã hội, đồng thời là một phân ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù. Khi Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lĩnh vực xuất bản đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, mở rộng quy mô và nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Tuy nhiên, sự vận hành của cơ chế thị trường cũng tạo ra những tác động tiêu cực, đặc biệt là khuynh hướng thương mại hóa chạy theo lợi nhuận cục bộ, làm ô nhiễm môi trường văn hóa tinh thần. Cùng với đó, bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc tế tạo ra nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng thông qua chiến lược "diễn biến hòa bình" để du nhập các ấn phẩm có tư tưởng độc hại, xâm hại an ninh quốc gia và sự ổn định chính trị. Trong bối cảnh đó, hệ thống quy phạm pháp luật về xuất bản tại thời điểm nghiên cứu bộc lộ sự thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán và chưa chuyển biến kịp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý xã hội bằng pháp luật.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản dưới góc độ khoa học pháp lý lý luận. Đề tài "Pháp luật xuất bản ở Việt Nam, quá trình thực hiện và đổi mới trong điều kiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" được nghiên cứu sinh Vũ Mạnh Chu thực hiện nhằm giải quyết trực tiếp yêu cầu lý luận và thực tiễn này.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích, lý giải cơ sở lý luận về đặc trưng, vai trò và nội dung quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với xuất bản trong nền kinh tế thị trường; đánh giá khách quan thực trạng pháp luật xuất bản tại Việt Nam; từ đó xác lập hệ thống quan điểm, phương hướng và các giải pháp đồng bộ nhằm đổi mới, hoàn thiện pháp luật về xuất bản.
Luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Trình bày có hệ thống nhận thức chung về xuất bản dưới góc độ là các quan hệ xã hội đặc biệt cần sự điều chỉnh của pháp luật; rút ra các đặc trưng cơ bản và vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước về xuất bản.
- Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật xuất bản và hiệu lực quản lý nhà nước về xuất bản tại Việt Nam trên cơ sở tổng kết quá trình hình thành lịch sử từ năm 1945.
- Phân tích các yêu cầu khách quan đòi hỏi phải đổi mới pháp luật xuất bản; đề xuất hệ thống quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm đổi mới và hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về xuất bản ở nước ta.
Đối tượng nghiên cứu trọng tâm của luận án là vai trò của pháp luật với tư cách là phương tiện quản lý nhà nước chủ yếu đối với hoạt động xuất bản. Phạm vi nghiên cứu bao quát cả ba công đoạn hợp thành của hoạt động xuất bản gồm: xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm, trong đó khâu xuất bản sách được xác định là trung tâm nghiên cứu. Về mặt thời gian, luận án giới hạn khảo sát tiến trình phát triển của pháp luật xuất bản tại Việt Nam từ năm 1945 đến thời điểm bảo vệ (năm 1996).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trước thời điểm luận án được công bố, số lượng công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực quản lý nhà nước đối với xuất bản bằng công cụ pháp luật còn rất hạn chế. Tác giả đã điểm lại các công trình tiêu biểu có liên quan trực tiếp đến đề tài:
- Nhóm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Phân viện Báo chí và Tuyên truyền (thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) chủ trì thực hiện, bao gồm:
- Đề tài "Đổi mới phương thức xuất bản sách trong điều kiện kinh tế thị trường".
- Đề tài "Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất bản sách ở nước ta hiện nay".
- Nhóm luận án nghiên cứu ở các chuyên ngành kinh tế và quản lý:
- Luận án Phó Tiến sĩ của nghiên cứu sinh Đặng Vinh Sường: "Đổi mới quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các nhà xuất bản trong bước chuyển sang cơ chế thị trường" (bảo vệ ở chuyên ngành Kinh tế, quản lý và kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân).
- Luận án Phó Tiến sĩ của nghiên cứu sinh Khuất Duy Hải: "Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức, quản lý ở các nhà xuất bản nước ta hiện nay" (bảo vệ ở chuyên ngành Kinh tế, quản lý và kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân).
Các công trình nêu trên chủ yếu tiếp cận hoạt động xuất bản từ góc độ kinh tế học, tổ chức quản trị hoặc quản lý báo chí - tuyên truyền chung. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện hoạt động xuất bản từ góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền. Luận án của nghiên cứu sinh Vũ Mạnh Chu là công trình đầu tiên đặt toàn bộ hoạt động xuất bản vào cấu trúc điều chỉnh của pháp luật, nghiên cứu các thuộc tính pháp lý, cơ chế tác động của quy phạm pháp luật và vai trò của pháp luật đối với cả ba lĩnh vực xuất bản, in và phát hành trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, về vai trò của văn hóa, tư tưởng và báo chí - xuất bản trong đời sống xã hội và đấu tranh giai cấp. Tác giả vận dụng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam tại các kỳ Đại hội VII và Đại hội VIII về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và quản lý xã hội bằng pháp luật.
Khung phân tích của luận án kết hợp hài hòa hai phương diện bản chất của xuất bản:
- Phương diện văn hóa - tư tưởng: Xuất bản thuộc kiến trúc thượng tầng, mang tính định hướng giá trị tinh thần, giáo dục tư tưởng và nâng cao dân trí.
- Phương diện sản xuất vật chất: Xuất bản thuộc hạ tầng cơ sở (mã ngành 0803 trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân), là hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hàng hóa đặc biệt chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường như quy luật giá trị, cung - cầu và giá cả.
Phương pháp nghiên cứu được luận án sử dụng là sự vận dụng tổng hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cùng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật và tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật.
- Phương pháp lịch sử để tái hiện các giai đoạn hình thành và phát triển của pháp luật xuất bản Việt Nam từ năm 1945.
- Phương pháp so sánh luật học để đối chiếu quy định pháp luật xuất bản của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (như Công ước Berne năm 1886) và pháp luật của một số quốc gia khác (Nhật Bản, Thụy Điển, Pháp, Anh, Đức, Hoa Kỳ).
- Khảo sát thực tiễn hoạt động tại các nhà xuất bản, cơ sở in, công ty phát hành và tham khảo ý kiến chuyên gia, nhà quản lý ngành xuất bản.
Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm các văn kiện của Đảng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước qua các thời kỳ, số liệu thống kê quốc gia về lực lượng lao động, giáo dục và ngành xuất bản, cùng các tài liệu lịch sử thư tịch và báo cáo của các cơ quan quản lý văn hóa - thông tin.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý Nhà nước bằng pháp luật về xuất bản
Chương 1 xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng và khung lý luận cho toàn bộ luận án. Về mặt nhận thức, tác giả định nghĩa xuất bản theo hai tầng nghĩa: theo nghĩa rộng, xuất bản là quá trình liên kết ba lĩnh vực xuất bản, in và phát hành nhằm sáng tạo, nhân bản và truyền bá xuất bản phẩm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội - chính trị; theo nghĩa hẹp, xuất bản là quy trình xử lý, hoàn chỉnh bản thảo và bản mẫu tại các nhà xuất bản.
Tác giả phác thảo lịch sử phát triển của nghề làm sách trên thế giới và tại Việt Nam:
| Giai đoạn / Địa bàn |
Sự kiện và Dấu mốc Lịch sử Xuất bản |
| Thế giới cổ - trung đại |
Ghi chép sơ khai trên chỉ thảo, vách đá, da thú, thẻ tre; đầu thế kỷ II SCN Trung Quốc phát minh ra giấy và kỹ thuật khắc ván gỗ; năm 868 SCN cuốn Kinh Kim Cương do Vương Giới in là cuốn sách in cổ nhất được phát hiện (tại Cam Túc). |
| Thế kỷ XV (Đức) |
Giai đoạn 1436–1444 Johannes Gutenberg chế tạo chữ rời hợp kim chì - thiếc - đồng và máy in gỗ; năm 1452–1455 in cuốn Phúc âm 42 dòng (200 bản). |
| Việt Nam thời phong kiến |
Sử dụng chữ Hán và chữ Nôm; cuốn sách Nôm cổ nhất là Thiền Tông Bản Hạnh (thời Trần); sách luật thời Trần gồm Quốc triều thông chế (20 quyển), Hình luật thư, Kiến Trung Thường Lễ (109 quyển); thời Hậu Lê có Luật Hồng Đức; trung tâm in kinh Phật cổ tại Luy Lâu; làng nghề giấy Bưởi, Láng. |
| Đầu thế kỷ XX tại Việt Nam |
Xuất hiện ba dòng xuất bản: Dòng xuất bản do Đảng lãnh đạo (khởi đầu từ tác phẩm Đường Kách mệnh tháng 12/1927 của Nguyễn Ái Quốc); Dòng xuất bản của chính quyền thực dân phong kiến; Dòng xuất bản tư nhân tiến bộ (Tân Dân, Đời Nay, Tân Việt). |
Về vai trò xã hội, luận án khẳng định xuất bản thực hiện bốn chức năng cơ bản:
- Là "bà đỡ" cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật và công trình khoa học ra đời dưới dạng vật chất hoàn chỉnh.
- Là phương tiện phản ánh đời sống tinh thần nhân loại, bảo tồn và lưu truyền các giá trị di sản văn hóa qua các thế hệ.
- Là công cụ quan trọng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Tác giả dẫn số liệu: trong tổng số 37,6 triệu người trong độ tuổi lao động tại Việt Nam thời điểm khảo sát, có 4 triệu lao động kỹ thuật (1,2 triệu người trình độ trung cấp, 800.000 đại học, 10.000 tiến sĩ, phó tiến sĩ và thạc sĩ); hàng năm 70% sản lượng xuất bản là sách giáo khoa và giáo trình.
- Là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh tư tưởng và đấu tranh giai cấp.
Về đặc điểm điều chỉnh pháp luật, luận án chỉ rõ:
- Xuất bản kết hợp hữu cơ giữa tính chất văn hóa - tư tưởng và tính chất kinh tế.
- Xuất bản phẩm là kết quả của quá trình tư duy sáng tạo đơn chiếc kết hợp quy trình sản xuất công nghiệp nhân bản hàng loạt.
- Xuất bản phẩm là hàng hóa đặc biệt: giá trị thực chất nằm ở hàm lượng tư tưởng, tri thức bên trong "vỏ vật chất"; giá trị sử dụng không bị tiêu hao triệt tiêu qua tiêu dùng mà được tích lũy, truyền tải và nhân lên trong nhận thức xã hội.
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với xuất bản mang ba đặc trưng: mở đường bảo đảm tự do sáng tạo trong khuôn khổ pháp lý (bác bỏ cơ chế kiểm duyệt trước khi in kiểu quan liêu); bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới; quản lý đồng thời hai mặt văn hóa - tư tưởng và sản xuất kinh doanh để chống khuynh hướng thương mại hóa cực đoan.
Chương 2: Thực trạng pháp luật trong quản lý Nhà nước về xuất bản ở Việt Nam và những yêu cầu đổi mới trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Chương 2 tập trung phân tích tiến trình lịch sử và đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật xuất bản của Việt Nam qua các giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945:
- Giai đoạn 1945–1954: Xác lập nền xuất bản cách mạng non trẻ, ban hành các văn bản điều chỉnh hoạt động in ấn, phát hành nhằm phục vụ kháng chiến và kiến quốc.
- Giai đoạn 1954–1975: Quản lý xuất bản theo mô hình kế hoạch hóa tập trung, phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam.
- Giai đoạn 1975–1986: Thống nhất quản lý xuất bản trên phạm vi cả nước theo cơ chế bao cấp toàn diện, nhà nước giao chỉ tiêu và bù lỗ.
- Giai đoạn từ 1986 đến 1996: Bước chuyển đổi sang cơ chế thị trường đòi hỏi sự đổi mới căn bản trong tư duy lập pháp, dẫn đến sự ra đời của Luật Xuất bản năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Đánh giá thực trạng pháp luật xuất bản tại thời điểm nghiên cứu, luận án chỉ rõ các kết quả đạt được: bước đầu hình thành hành lang pháp lý điều chỉnh cả ba khâu xuất bản, in và phát hành; thể chế hóa quyền tự do sáng tạo và quyền công bố tác phẩm của công dân; xác định địa vị pháp lý của các nhà xuất bản và cơ quan chủ quản.
Tuy nhiên, luận án cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập lớn:
- Quy định pháp luật còn thiếu tính đồng bộ, nhiều nội dung còn mang tính nguyên tắc chung chung, thiếu các quy phạm định lượng cụ thể.
- Chưa phân định rành mạch giữa chức năng quản lý nhà nước về xuất bản với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của đơn vị xuất bản.
- Chế tài xử lý vi phạm hành chính và hình sự đối với các hành vi in lậu, phát hành sách lậu, vi phạm quyền tác giả và xâm phạm điều cấm về nội dung còn thiếu tính nghiêm minh và chưa đủ sức răn đe.
- Cơ chế tài chính, thuế và hỗ trợ xuất bản phẩm phục vụ nhiệm vụ chính trị, giáo dục, miền núi còn lúng túng trong điều kiện kinh tế thị trường.
Từ đó, chương 2 xác lập các yêu cầu khách quan đòi hỏi phải đổi mới pháp luật xuất bản cả về mặt lý luận (xây dựng hệ thống khái niệm chuẩn xác, thể chế hóa đồng bộ đường lối đổi mới của Đảng) và thực tiễn (giải quyết xung đột lợi ích kinh tế, chống thương mại hóa lệch lạc và hội nhập quốc tế về bản quyền).
Chương 3: Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý Nhà nước về xuất bản ở Việt Nam hiện nay - Phương hướng và giải pháp
Chương 3 đề xuất hệ thống quan điểm, phương hướng và các giải pháp pháp lý cụ thể nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về xuất bản:
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án mang lại những đóng góp khoa học mới trên cả phương diện lý luận và thực tiễn quản lý pháp lý:
-
Về lý luận:
- Là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên dưới góc độ Lý luận Nhà nước và Pháp quyền về hoạt động xuất bản trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
- Phân tích và luận giải sâu sắc bản chất nhị nguyên của xuất bản (vừa là hoạt động văn hóa - tư tưởng thuộc kiến trúc thượng tầng, vừa là ngành kinh tế - kỹ thuật thuộc hạ tầng cơ sở), từ đó xác lập cơ sở khoa học cho sự can thiệp của pháp luật.
- Hệ thống hóa bốn chức năng xã hội và ba đặc điểm bản chất của xuất bản phẩm, làm sáng tỏ tính chất hàng hóa đặc biệt của sách và các sản phẩm xuất bản.
- Luận giải mối quan hệ biện chứng giữa ba loại hiệu quả: hiệu quả chính trị, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội trong quản lý nhà nước về xuất bản.
-
Về thực tiễn:
- Đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật xuất bản ở Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1996, chỉ rõ nguyên nhân của các bất cập trong bối cảnh chuyển đổi cơ chế quản lý.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về xây dựng pháp luật, tổ chức bộ máy thanh tra, chính sách kinh tế - tài chính và bảo hộ quyền tác giả, phục vụ trực tiếp cho quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản và hoàn thiện pháp chế quản lý văn hóa - thông tin.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án được thực hiện và bảo vệ vào năm 1996, thời điểm công nghệ thông tin và mạng Internet chưa phát triển phổ biến tại Việt Nam; do đó các khía cạnh pháp lý về xuất bản số, xuất bản điện tử trực tuyến và bảo vệ bản quyền trên không gian mạng chưa được phân tích sâu sắc như các hình thức in ấn truyền thống.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu mở rộng việc điều chỉnh pháp luật đối với các loại hình xuất bản phẩm mới (đa phương tiện, sách điện tử, dữ liệu số); khảo sát tác động pháp lý khi Việt Nam gia nhập đầy đủ các công ước quốc tế đa phương về quyền tác giả (Công ước Berne) và các hiệp định thương mại song phương, đa phương.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị cao đối với:
- Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan lập pháp: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện Luật Xuất bản, Bộ luật Dân sự (phần quyền tác giả) và các văn bản hướng dẫn quản lý nhà nước về thông tin, truyền thông.
- Cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị xuất bản: Giúp các nhà quản lý, giám đốc, biên tập viên nhà xuất bản nắm vững ranh giới pháp lý, cân bằng giữa nhiệm vụ chính trị - văn hóa và hiệu quả kinh doanh.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các chuyên đề về Lý luận Nhà nước và Pháp quyền, Quản lý văn hóa, Báo chí - Xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án giải quyết mối quan hệ giữa chức năng tư tưởng và tính chất kinh tế của xuất bản như thế nào?
Luận án khẳng định xuất bản là hoạt động văn hóa - tư tưởng nhưng được vận hành thông qua quy trình sản xuất vật chất. Pháp luật không thể chỉ nhấn mạnh khía cạnh tư tưởng mà phủ nhận các quy luật kinh tế thị trường (dẫn đến bao cấp, tự phá sản), cũng không thể buông lỏng để xuất bản chạy theo lợi nhuận đơn thuần (dẫn đến thương mại hóa độc hại). Pháp luật phải tạo hành lang để điều chỉnh hoạt động kinh tế trong văn hóa và điều chỉnh hoạt động văn hóa trong cơ chế thị trường.
2. Tại sao luận án khẳng định xuất bản phẩm là một loại hàng hóa đặc biệt?
Xuất bản phẩm là hàng hóa đặc biệt vì giá trị quyết định của nó là giá trị nội dung tư tưởng, tri thức và nghệ thuật bên trong chứ không thuần túy là chi phí vật chất của giấy, mực, công in. Đồng thời, giá trị sử dụng của xuất bản phẩm không bị mất đi qua tiêu dùng mà tiếp tục tích lũy, lưu truyền và có khả năng chuyển hóa thành lực lượng vật chất thúc đẩy tiến bộ xã hội.
3. Cơ sở lý luận nào được tác giả sử dụng để khẳng định việc bãi bỏ chế độ kiểm duyệt trước khi in?
Dựa trên quyền tự do ngôn luận, tự do sáng tạo được Hiến pháp ghi nhận và bản chất của Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Quản lý bằng pháp luật thay thế cơ chế "quan văn nghệ" chủ quan bằng các quy phạm pháp luật minh bạch: tác giả và nhà xuất bản được tự do sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về xuất bản phẩm của mình theo các điều cấm đã được luật hóa rõ ràng.
4. Số liệu thống kê nào được luận án dẫn chứng về vai trò của xuất bản đối với giáo dục và nhân lực Việt Nam?
Luận án dẫn chứng số liệu quốc gia thời điểm nghiên cứu: Việt Nam có 4 triệu lao động kỹ thuật trên tổng số 37,6 triệu người trong độ tuổi lao động; hàng năm 70% tổng sản lượng xuất bản của cả nước là sách giáo khoa và giáo trình phục vụ công tác đào tạo và nâng cao dân trí.
Kết luận
Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Luật học của tác giả Vũ Mạnh Chu đã giải quyết một cách khoa học và hệ thống vấn đề quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động xuất bản ở Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bằng việc phân tích sâu sắc bản chất nhị nguyên của xuất bản và tính chất hàng hóa đặc biệt của xuất bản phẩm, công trình đã xác lập cơ sở lý luận vững chắc cho sự điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực văn hóa - tư tưởng. Những đánh giá thực trạng khách quan và hệ thống giải pháp lập pháp, tổ chức bộ máy, bảo hộ quyền tác giả do luận án đề xuất đã đóng góp thiết thực vào tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện thể chế quản lý xuất bản tại Việt Nam.