CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VỀ PHÍ VÀ LỆ PHÍ THUỘC NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về phí và lệ phí thuộc ngân sách nhà nước 1. Khái niệm phí và lệ phí thuộc ngân sách nhà nước 1. Khái niệm phí Về mặt lý luận, theo các nhà nghiên cứu luật học có nhiều định nghĩa khác nhau về phí.
Theo viện khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp cho rằng “ hí là khoản thu mà người hưởng lợi ích phải nộp do việc đầu tư, bảo dưỡng công tr nh công cộng, hoạt động dịch vụ của tổ chức, cá nhân khác nhau”. 3 Định nghĩa về phí thì được phân làm hai loại: Phí nhà nước và phí xã hội. hí nhà nước là khoản thu của ngân sách nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định theo chế độ phân cấp quản lý phí và chỉ có các cơ quan. Tổ chức được pháp luật quy định mới được tiến hành thu phí nhà nước.
Người nộp phí là tổ chức, cá nhân được hưởng lợi ích của các công trình công cộng hoặc các hoạt động sự nghiệp do nhà nước tiến hành. hí xã hội là giá cả dịch vụ mà người thụ hưởng lợi ích phải trả cho người cung ứng dịch vụ. Khác với phí nhà nước, các khoản thu phí xã hội do tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ hưởng theo mức do các bên thỏa thuận. Bên cạnh đó, phí cũng được hiểu là một khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được tổ chức (có thể là cơ quan quản lý nhà nước hoặc không phải là cơ quan quản lý nhà nước) cung cấp dịch vụ theo yêu cầu hoặc theo quy định của pháp luật hoặc khi tham gia vào tổ chức đoàn thể.4 Phí còn được định nghĩa là khoản thu hồi chi phí đầu tư cung cấp các dịch vụ công không thuần túy theo quy định của pháp luật và là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi sử dụng các dịch vụ công cộng đó.5 Theo Pháp lệnh phí và lệ phí 2001 quy định: “ hí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định 3 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật h c, NCB Từ điển Bách Khoa, NXB Tư pháp, tr.
4 Nguyễn Thị Huệ (2001), ề việc xây d ng pháp lệnh phí và lệ phí, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Số 02, tr. 5 Lê Thị Nguyệt Châu, Lê Huỳnh Phương Chính (2009), iáo tr nh Luật Tài chính 1, Cần Thơ, tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 trong anh mục phí ban hành k m theo háp lệnh này”6. Như vậy, đã có định nghĩa pháp lý về phí được quy định cụ thể trong văn bản pháp luật góp phần tao cơ sở, nền tảng cho việc nghiên cứu, tìm hiểu, so sánh với các khái niệm có liên quan.
Theo Luật Phí và lệ phí năm 2015 định nghĩa: “ hí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đ p chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị s nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong anh mục phí ban hành k m theo Luật này”.7 Nhìn chung, định nghĩa về phí được quy định trong Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Pháp lệnh về phí và lệ phí năm 2001 đều nhấn mạnh chi phí là khoản tiền “phải trả”, từ phải trả ở đây mang tính chất bắt buộc khi tổ chức, cá nhân được công cấp dịch vụ công theo quy đinh trong mục phí. Tuy nhiên, khái niệm về phí trong Luật Phí và lệ phí năm 2015 có tính khác biệt khi làm rõ nội hàm mục đích thu phí là để bù đắp chi phí và mang tính phục vụ tổ chức, cá nhân khi được cung cấp dịch vụ công. Tóm lại, phí là khoản tiền mang tính chất bắt buộc mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được các chủ thể có thẩm quyền hoặc chủ thể được ủy quyền cung cấp dịch vụ công, nhất định nằm trong Danh mục phí mà pháp luật quy định. Khái niệm lệ phí Cũng như phí thì khái niệm lệ phí cũng được giới nghiên cứu luật học phân tích, làm rõ ở nhiều góc độ khác nhau.
Theo Từ điển Luật học của Viên khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp thì: “Lệ phí là khoản thu ngân sách nhà nước mà người thụ hưởng kết quả hoạt động quản lý là nhà nước, người được phục vụ có nghĩa vụ nộp”.8 Lệ phí còn được hiểu là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền thực hiện công việc quản lý nhà nước nhằm đảm bảo quyền lợi cho chủ thể nộp lệ phí.9 6 Điều 3, Pháp lệnh Phí và lệ phí 2001; Tran Ngọc Đường và Nguyên Thành (2009), hái niệm pháp lý trong các văn bản pháp luật, NXB Tư Pháp, Hà Nội, tr. 7 Khoản 1 Điều 3 Luật Phí và lệ phí 2015 8 Viện Khoa học pháp lý (2006), tlđd, tr. 9 Trần Vũ Hải (2009), T m hiểu thuật ngữ pháp luật Tài chính công, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.50 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Theo Pháp lệnh Phí và lệ phí năm 2001 thì định nghĩa lệ phí như sau: “Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước theo quy định trong anh mục lệ phí ban hành k m theo háp lệnh này”.10 Những công việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực lệ phí có thể kể đến như việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp phiếu lý lịch tư pháp, cấp hộ chiếu, thị thực xuất cảnh, cấp giấy ph p hoạt động chứng khoán, cấp giấy ph p xây dựng trong lĩnh vực công chứng…Tương ứng với các công việc này s có các khoản thu lệ phí khác nhau được quy định cụ thể trong Danh mục lệ phí do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành. Khái niệm lệ phí được tiếp tục quy định trong Luật Phí và lệ phí 2015 theo đó: “Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, công việc quản lý nhà nước được quy định trong anh mục lệ phí ban hành k m theo Luật này”.11 So với khái niệm lệ phí được quy định trong Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 thì khái niệm về lệ phí trong Luật phí và lệ phí năm 2015 có phần khác biệt về thẩm quyền thu và công việc thu lệ phí.
Cụ thể, thẩm quyền thu lệ phí trong Pháp lệnh thuộc về cơ quan nhà nước, tổ chức được ủy quyền, trong khi đó Luật thu hẹp chủ thể có thẩm quyển chỉ là cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, công việc thu lệ phí được mở rộng ra ngoài những công việc quản lý nhà nước còn có các dịch vụ công được quyền thu lệ phí. Từ các khái niệm trên cho ta kết luận lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cung cấp các dịch vụ về quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật. Việc thu phí là việc Nhà nước thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư khi cung cấp các dịch vụ công cộng cho xã hội, đồng thời là các khoản chi phí mà người dân phải trả khi thụ hưởng các dịch vụ công cộng.
Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động, một số cơ quan hành chính nhà nước còn cung cấp dịch vụ hành chính pháp lý cho người dân. Người dân thụ hưởng các dịch vụ hành chính 10 Điều 3 Pháp lệnh Phí và lệ phí 2001. 11 Khoản 2 Điều 3 Luật Phí và lệ phí 2015. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 công này có thể phải trả một phần chi phí, đây chính là các khoản lệ phí.
Như vậy, lệ phí là các khoản thu phát sinh ở các cơ quan của bộ máy chính quyền nhà nước có cung cấp các dịch vụ công cộng về hành chính pháp lý. Tóm lại, phí và lệ phí được hiểu một cách khái quát nhất là những khoản thu mang tính chất bắt buộc, gắn liền với một số hoạt động (dịch vụ công hoặc công việc mang tính quản lý nhà nước theo quy định pháp luật) được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền hoặc chủ thể được ủy quyền nhằm hoàn trả một phần hoặc toàn bộ chi phí cho việc thực hiện các công việc trên, đồng thời gắn với trách nhiệm vật chất của chủ thể có yêu cầu. Khái niệm phí và lệ phí thuộc ngân sách nhà nước Để làm rõ khái niệm phí và lệ phí thuộc ngân sách nhà nước thì không thể không đi vào tìm hiểu một nội hàm quan trọng đó là ngân sách nhà nước. Theo Điều 1 Luật ngân sách nhà nước sô 83/2015/QH2015 của Quốc hội khóa 13 ngày 25 tháng 6 năm 2015 định nghĩa “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu của nhà nước được d toán và th c hiện trong một khoản thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo th c hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”.12 Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, giữ vai trò là công cụ phân phối. Điều này được thể hiện thông qua việc nhà nước huy động nguồn lực tài chính để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thông qua việc tiến hành cân đối giữa các khoản thu và chi của nhà nước, nhà nước có thể hoạch định chính sách trong điều tiết thu nhập, giải quyết mối quan hệ giữa thu và chi, giữa tích lũy và tiêu dùng, đầu tư và phát triển.
Ngân sách nhà nước giữ vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua việc điều hòa nguồn lực tài chính giữa các vùng kinh tế, các ngành kinh tế thông qua việc hướng dẫn kích thích hay hạn chế sản xuất, tiêu dùng bằng các chính sách thuế, 12 Khoản 14 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 tài chính, ngân sách nhà nước có thể điều tiết thu nhập của các chủ thể khác nhau trong cùng xã hội, điều chỉnh giá cả ổn định thị trường, chống lạm phát. Ngoài ra, ngân sách nhà nước còn giữ vai trò là công cụ thực hiện chính sách xã hội.