Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các chủ thể kinh doanh dưới nhiều mô hình doanh nghiệp khác nhau. Nhằm thiết lập môi trường đầu tư kinh doanh an toàn, bình đẳng và minh bạch, hệ thống pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật doanh nghiệp nói riêng liên tục được sửa đổi, bổ sung. Một trong những chế định cốt lõi giữ vai trò quyết định đến hiệu lực vận hành của doanh nghiệp là chế định người đại diện, bởi doanh nghiệp là một pháp nhân không thể tự thân hành động mà phải thông qua ý chí và hành vi của thể nhân đại diện để xác lập, thực hiện các giao dịch nội bộ cũng như giao dịch với các chủ thể bên ngoài.
Sự chuyển giao lập pháp từ Luật Doanh nghiệp năm 2005 sang Luật Doanh nghiệp năm 2014 cùng sự hoàn thiện của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là cơ chế cho phép doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật. Tuy nhiên, sau hơn hai năm triển khai thực tế, khung khổ pháp lý điều chỉnh chế định này bộc lộ không ít bất cập và khoảng trống:
- Sự thiếu nhất quán trong việc xác định các hình thức đại diện trong giao dịch thương mại;
- Ranh giới chưa rõ ràng về phạm vi thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với các giao dịch do người đại diện xác lập vượt quá thẩm quyền hoặc không có quyền đại diện;
- Vấn đề tiếp nhận và áp dụng các nguyên tắc, tập quán thương mại quốc tế về quan hệ đại diện;
- Sự lúng túng trong nhận thức và áp dụng quy định tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước hoặc doanh nghiệp dịch vụ công ích cổ phần hóa.
Xuất phát từ các vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, cùng quá trình khảo sát thực tế tại Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa, đề tài tập trung làm rõ các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ đại diện trong doanh nghiệp và đánh giá thực tiễn thi hành.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác lập qua 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và nội dung pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp.
- Phân tích thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp, từ đó chỉ rõ ưu điểm và hạn chế.
- Đưa ra định hướng và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam về nội dung, hình thức, phạm vi, thẩm quyền, vai trò, trách nhiệm của người đại diện trong doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện pháp luật tại Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa.
- Phạm vi không gian: Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2014 (thời kỳ thi hành Luật Doanh nghiệp 2005), giai đoạn sửa đổi ban hành Luật Doanh nghiệp 2014 và Bộ luật Dân sự 2015.
- Phạm vi lĩnh vực: Chế định pháp luật doanh nghiệp và pháp luật dân sự điều chỉnh quan hệ đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền trong doanh nghiệp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận kế thừa và vận dụng hệ thống lý luận về quan hệ đại diện và quản trị công ty từ các học thuyết kinh điển trên thế giới cũng như các công trình nghiên cứu chuyên sâu trong nước. Về mặt lý thuyết quản trị và kinh tế học pháp lý, tác giả tham chiếu:
- Học thuyết đại diện (Agency Theory) khởi xướng bởi Michael C. Jensen và William H. Meckling, phân tích mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu (cổ đông) và người thụ ủy (người quản lý, đại diện) trong việc tối đa hóa lợi ích;
- Lý thuyết phân tách quyền sở hữu và quyền quản lý kiểm soát công ty hiện đại trong các công trình của Adam Smith (The Wealth of Nations), Adolf A. Berle và Gardiner C. Means (The Modern Corporation and Private Property), Eric Rasmusen (Agency Law and Contract Formation), và Bob Tricker (Corporate Governance);
- Nguyên tắc đại diện trong truyền thống Common Law dựa trên châm ngôn Latinh "Qui facit per alium, facit per se" (hành động của một người thông qua chủ thể khác được coi là hành động của chính người đó) và nền tảng luật tự nhiên của hệ thống Civil Law;
- Các văn bản và nguyên tắc pháp lý quốc tế: Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế UNIDROIT, Nguyên tắc Luật Hợp đồng Châu Âu (PECL), Luật thống nhất về thương mại OHADA, Công ước UNIDROIT về đại diện trong mua bán hàng hóa quốc tế, và Công ước La Hay (Hague Convention) về luật áp dụng đối với đại diện.
Ở phạm vi trong nước, tác giả tổng quan các nghiên cứu chuyên biệt về đại diện thương nhân và người đại diện theo pháp luật của PGS.TS. Bùi Xuân Hải (2005, 2007), TS. Nguyễn Văn Tuyến (2003), TS. Lê Thị Bích Thọ (2001), TS. Nguyễn Ngọc Thanh (2010), TS. Nguyễn Vũ Hoàng (2013), TS. Ngô Huy Cương (2009), cùng các luận án, luận văn của Hồ Ngọc Hiển (2012), Lê Việt Phương (2014), Lý Đăng Thư (2011), Hà Thị Thu Hằng (2007), Nguyễn Thị Thúy Nga (2006).
Về mặt quy phạm, cơ sở pháp lý trực tiếp bao gồm:
- Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005, 2015;
- Luật Doanh nghiệp các năm 1999, 2005, 2014;
- Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017; Luật Phá sản năm 2014;
- Nghị định số 43/2010/NĐ-CP và Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT quy định về đăng ký doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai có sự phân bổ theo mục tiêu của từng phần:
- Phương pháp duy vật biện chứng: Sử dụng trong Chương 1 nhằm làm rõ sự hình thành, phát triển và mối liên hệ biện chứng của các khái niệm, bản chất pháp lý của người đại diện trong doanh nghiệp.
- Phương pháp phân tích quy phạm: Sử dụng trong Chương 1 và Chương 2 nhằm mổ xẻ nội dung điều luật, cấu trúc quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn và phương pháp tổng hợp: Sử dụng trong Chương 2 để phản ánh số liệu, cơ cấu tổ chức và thực trạng thực thi quy định đại diện tại đơn vị thực tế.
- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Sử dụng trong Chương 3 để đúc rút các khoảng trống thực tiễn, từ đó luận giải định hướng và giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp lý.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về người đại diện trong doanh nghiệp và pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận toàn diện về chế định đại diện. Theo Điều 85 Bộ luật Dân sự 2015, đại diện của pháp nhân được thể hiện qua hai hình thức: đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Doanh nghiệp với tư cách là một pháp nhân độc lập không thể tự thân thực hiện hành vi mà phải thông qua thể nhân. Người đại diện đóng vai trò là người thụ ủy, có nghĩa vụ quản lý nguồn lực vì lợi ích tối cao của chủ sở hữu.
Tác giả phân tích các đặc trưng cốt lõi của người đại diện trong doanh nghiệp:
- Về chủ thể: Người đại diện bắt buộc phải là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (đủ 18 tuổi trở lên, không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật Việt Nam); bên được đại diện là tổ chức doanh nghiệp có tư cách pháp lý hợp lệ.
- Về nghĩa vụ: Hành động nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp theo cơ chế ủy thác tài sản, chịu trách nhiệm pháp lý cá nhân nếu thực hiện hành vi tư lợi.
- Về phạm vi: Chỉ được nhân danh doanh nghiệp xác lập giao dịch trong phạm vi đại diện được pháp luật, Điều lệ hoặc văn bản ủy quyền ghi nhận.
| Tiêu chí so sánh |
Đại diện theo pháp luật |
Đại diện theo ủy quyền |
| Cơ sở xác lập |
Do pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; ghi nhận trong Điều lệ và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. |
Xác lập dựa trên ý chí thỏa thuận giữa người đại diện và người được đại diện (hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền). |
| Chủ thể thực hiện |
Thường là các chức danh quản lý cao nhất (Chủ tịch HĐQT, Chủ tịch HĐTV, Giám đốc/Tổng giám đốc). |
Cá nhân được người đại diện theo pháp luật hoặc chủ sở hữu ủy quyền (Phó Giám đốc, Trưởng phòng, cá nhân đại diện phần vốn góp). |
| Yêu cầu cư trú |
Bắt buộc phải có ít nhất một người thường trú tại Việt Nam; vắng mặt quá 30 ngày phải ủy quyền bằng văn bản. |
Thực hiện theo phạm vi công việc ủy quyền, không bắt buộc điều kiện thường trú chung như đại diện theo pháp luật. |
| Chế độ thù lao |
Không hưởng thù lao đại diện riêng biệt (thực hiện theo chế độ tiền lương/thù lao quản lý của chức danh). |
Được hưởng thù lao đại diện theo thỏa thuận trong hợp đồng ủy quyền hoặc quy định nội bộ. |
| Ủy quyền lại |
Có quyền ủy quyền cho người khác theo quy định tại Điều lệ hoặc quy định pháp luật. |
Không đương nhiên được ủy quyền lại cho người thứ ba, trừ trường hợp được người ủy quyền đồng ý. |
Về mặt vai trò, người đại diện theo pháp luật là điều kiện pháp lý bắt buộc để doanh nghiệp tồn tại và hoạt động bình thường, giữ mối liên hệ đối nội và đối ngoại, nhân danh doanh nghiệp tham gia tố tụng và chịu trách nhiệm pháp lý cá nhân trước các sai phạm. Trong khi đó, người đại diện theo ủy quyền giúp san sẻ gánh nặng điều hành, hỗ trợ quản lý chi nhánh, phòng ban và thực thi quyền của cổ đông/thành viên là tổ chức.
Chương 1 cũng luận giải cơ sở ban hành pháp luật dựa trên 3 trụ cột: chính trị (sự ổn định sau thống nhất và định hướng mở cửa), kinh tế (yêu cầu điều tiết nền kinh tế thị trường định hướng XHCN qua các mốc Luật Doanh nghiệp 1999, 2005, 2014 và Bộ luật Dân sự 1995, 2005, 2015), và xã hội (bảo đảm quyền lợi hài hòa giữa doanh nghiệp, đối tác và người lao động).
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh người đại diện trong doanh nghiệp
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn thi hành.
1. Chế định người đại diện theo pháp luật:
- Về số lượng: Khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép công ty TNHH và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật, số lượng cụ thể và phân định quyền hạn do Điều lệ quy định. Công ty hợp danh trao quyền đại diện cho tất cả thành viên hợp danh. Doanh nghiệp tư nhân chỉ có duy nhất 01 người đại diện là chủ doanh nghiệp tư nhân.
- Về tiêu chuẩn và điều kiện: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không thuộc diện cấm quản lý doanh nghiệp theo Điều 13, Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014, Điều 19-20 Luật Cán bộ công chức, Điều 19 Luật Viên chức, Điều 37 Luật Phòng chống tham nhũng; đáp ứng trình độ chuyên môn, chứng chỉ hành nghề đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
- Nghĩa vụ và trách nhiệm: Thực hiện theo Điều 14 Luật Doanh nghiệp 2014: trung thực, cẩn trọng, trung thành với lợi ích công ty; cấm lạm dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh; thông báo sở hữu chi phối tại doanh nghiệp khác; chịu trách nhiệm cá nhân bồi hoàn thiệt hại khi vi phạm.
- Căn cứ chấm dứt tư cách đại diện: Doanh nghiệp chấm dứt hoạt động (giải thể, phá sản, sáp nhập, chia tách); hết nhiệm kỳ/hết hạn hợp đồng lao động; từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm; vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày không ủy quyền; người đại diện của công ty TNHH 2 thành viên bị tạm giam, mất tích, hạn chế năng lực hành vi hoặc bị tước quyền hành nghề; vi phạm điều cấm tại khoản 2 Điều 18 hoặc nghĩa vụ hạn chế cạnh tranh tại Điều 159 Luật Doanh nghiệp 2014.
2. Chế định người đại diện theo ủy quyền:
- Số lượng: Doanh nghiệp sở hữu từ 35% vốn điều lệ công ty TNHH nhiều thành viên hoặc từ 10% cổ phần phổ thông công ty cổ phần được cử tối đa 03 người đại diện theo ủy quyền (khoản 5 Điều 15 Luật Doanh nghiệp 2014).
- Hạn chế đối với doanh nghiệp có vốn nhà nước: Công ty có phần vốn góp hoặc cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ không được cử người thân (vợ/chồng, cha/mẹ đẻ, cha/mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh/chị/em ruột) của người quản lý và người có thẩm quyền bổ nhiệm làm người đại diện theo ủy quyền tại công ty khác.
- Căn cứ chấm dứt ủy quyền: Thỏa thuận chấm dứt; hết thời hạn ủy quyền; hoàn thành công việc ủy quyền; một trong các bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự.
3. Trách nhiệm pháp lý đối với giao dịch của người đại diện:
Tác giả chỉ rõ sự thiếu đồng bộ giữa Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Doanh nghiệp 2014 trong xử lý giao dịch vượt quá thẩm quyền hoặc không có quyền đại diện:
- Theo Điều 142, Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch do người không có thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xác lập không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện (chỉ vô hiệu phần vượt quá), trừ trường hợp người được đại diện công nhận, biết mà không phản đối, hoặc có lỗi dẫn đến việc người thứ ba ngay tình không thể biết.
- Ngược lại, Luật Doanh nghiệp 2014 tại các Điều 67, 86, 162 quy định các giao dịch vi phạm thẩm quyền phê duyệt của HĐTV/HĐQT/ĐHĐCĐ sẽ bị tuyên vô hiệu toàn bộ, tạo ra xung đột quy phạm khi áp dụng giải quyết tranh chấp hợp đồng.
4. Thực tiễn tại Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa:
- Tên doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa (Tên quốc tế: Thanh Hoa Urban Construction and Environment Joint Stock Company).
- Mã số thuế / Mã doanh nghiệp: 2800152894.
- Địa chỉ trụ sở: Số 467 Lê Hoàn, Phường Ngọc Trạo, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Lịch sử pháp lý: Ngày hoạt động từ 18/03/1994, cấp giấy phép chuyển đổi mô hình cổ phần ngày 03/06/2010.
- Vốn điều lệ: 32.977.900.000 đồng (Ba mươi hai tỷ chín trăm bảy mươi bảy triệu chín trăm nghìn đồng).
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Viết Lân. Công ty chỉ áp dụng mô hình 01 người đại diện theo pháp luật duy nhất.
- Ngành nghề kinh doanh: Thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải sinh hoạt, rác y tế, rác công nghiệp; quản lý thoát nước và xử lý nước thải; quản lý, khai thác công viên, vườn hoa, cây xanh đô thị; quản lý điện chiếu sáng, điện trang trí; dịch vụ tang lễ, nghĩa trang; duy tu giao thông nội thị; xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật, đường dây điện đến 35kV; tư vấn thiết kế, giám sát, lập dự án; vận tải hàng hóa chuyên dụng; kinh doanh xăng dầu, khí đốt.
- Đánh giá thực trạng: Việc duy trì một người đại diện theo pháp luật giúp tập trung quyền điều hành nhưng tạo áp lực lớn cho công tác ký kết hợp đồng dịch vụ công ích và quản trị rủi ro giao dịch khi địa bàn hoạt động trải rộng.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về người đại diện trong doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hoa
Chương 3 tập trung vào hai nhóm nội dung chính:
- Phương hướng hoàn thiện pháp luật: Xây dựng định hướng sửa đổi các quy định pháp luật kinh tế và dân sự nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm, nâng cao tính minh bạch của thông tin đăng ký đại diện, và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba ngay tình trong các giao dịch kinh tế.
- Kiến nghị cụ thể:
- Hoàn thiện quy định về cơ chế đa đại diện trong Luật Doanh nghiệp, làm rõ ranh giới thẩm quyền của từng đại diện đối với từng loại giao dịch cụ thể để tránh xung đột quyền lực nội bộ;
- Thống nhất cơ chế xử lý giao dịch vượt thẩm quyền giữa Luật Doanh nghiệp và Bộ luật Dân sự, tránh việc vô hiệu hóa toàn bộ hợp đồng gây thiệt hại cho đối tác ngay tình;
- Hoàn thiện quy chế quản trị nội bộ và cơ chế ủy quyền thường xuyên tại Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa nhằm phân định rõ trách nhiệm giữa người đại diện theo pháp luật và các cấp quản lý trực thuộc.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật cụ thể sau:
- Hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết quản trị và học thuyết đại diện từ các tác giả kinh điển thế giới (Jensen & Meckling, Adam Smith, Adolf Berle, Gardiner Means) và đối chiếu với các nguyên tắc hợp đồng quốc tế (UNIDROIT, OHADA, PECL, La Hay).
- Làm rõ cấu trúc phân loại, tiêu chuẩn và trách nhiệm pháp lý của hai hình thức đại diện: đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp 2014 và Bộ luật Dân sự 2015.
- Phát hiện và phân tích sâu sắc điểm mâu thuẫn giữa quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 (tuyên bố vô hiệu hợp đồng) và Bộ luật Dân sự 2015 (chỉ vô hiệu phần vượt quá thẩm quyền) trong cơ chế xử lý giao dịch vượt thẩm quyền đại diện.
- Đóng góp nguồn tư liệu thực tiễn thông qua việc khảo cứu một doanh nghiệp cụ thể (Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa, vốn điều lệ 32,977 tỷ đồng, người đại diện theo pháp luật là ông Hồ Viết Lân), phân tích cách thức tổ chức thực hiện đại diện tại doanh nghiệp dịch vụ đô thị đặc thù.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo cứu thực tiễn chỉ giới hạn tại một doanh nghiệp duy nhất (Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa) – đơn vị hiện chỉ duy trì một người đại diện theo pháp luật duy nhất, do đó chưa có số liệu thực nghiệm để đánh giá cơ chế đa người đại diện hoặc các tranh chấp ủy quyền phức tạp giữa các cổ đông tổ chức lớn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát mô hình đa người đại diện theo pháp luật tại các tập đoàn, tổng công ty có quy mô vốn lớn và cơ cấu sở hữu phức tạp; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế giải quyết xung đột thẩm quyền giữa các người đại diện theo pháp luật khi xác lập giao dịch với đối tác nước ngoài.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Quản trị Kinh doanh khi nghiên cứu về chế định đại diện và quản trị công ty;
- Cán bộ pháp chế, luật sư và nhà quản lý doanh nghiệp trong việc rà soát Điều lệ công ty, xây dựng văn bản ủy quyền, kiểm soát thẩm quyền ký kết hợp đồng và xử lý thủ tục hành chính thay đổi người đại diện theo Nghị định 43/2010/NĐ-CP và Thông tư 20/2015/TT-BKHĐT;
- Các nhà nghiên cứu quan tâm đến sự tương thích giữa Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Doanh nghiệp 2014.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, số lượng người đại diện theo pháp luật của các loại hình doanh nghiệp được phân định như thế nào?
Theo khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014, công ty TNHH và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật (số lượng và chức danh cụ thể do Điều lệ quy định). Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh đều là người đại diện theo pháp luật. Đối với doanh nghiệp tư nhân, chỉ có duy nhất 01 người đại diện theo pháp luật là chủ doanh nghiệp tư nhân.
2. Tiêu chuẩn hạn chế người đại diện theo ủy quyền đối với doanh nghiệp có vốn nhà nước được quy định như thế nào?
Theo khoản 5 Điều 15 Luật Doanh nghiệp 2014, trường hợp thành viên hoặc cổ đông là công ty có phần vốn góp hoặc cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì không được cử vợ/chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh/chị/em ruột của người quản lý và của người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý làm người đại diện theo ủy quyền tại công ty khác.
3. Pháp luật xử lý như thế nào khi người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH hai thành viên bị tạm giam hoặc mất năng lực hành vi dân sự?
Đối với công ty TNHH hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật bị tạm giữ, tạm giam, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất/hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề, thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên.
4. Điểm mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Doanh nghiệp 2014 khi xử lý giao dịch vượt quá thẩm quyền đại diện là gì?
Theo Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch vượt quá phạm vi đại diện chỉ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với phần vượt quá (trừ khi được công nhận hoặc biết mà không phản đối). Trong khi đó, theo các Điều 67, 86, 162 Luật Doanh nghiệp 2014, giao dịch không được HĐTV, HĐQT hoặc ĐHĐCĐ chấp thuận theo thẩm quyền sẽ bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ.
5. Cơ cấu người đại diện và quy mô vốn của Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa trong khóa luận được ghi nhận ra sao?
Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa có mã số thuế 2800152894, vốn điều lệ là 32.977.900.000 đồng, và chỉ duy trì một người đại diện theo pháp luật duy nhất là ông Hồ Viết Lân.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp đã hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận về chế định người đại diện trong doanh nghiệp dựa trên các học thuyết quản trị và chuẩn mực pháp lý quốc tế. Đồng thời, tác giả đã chỉ rõ những bất cập trong quy định thực định của Luật Doanh nghiệp 2014 và Bộ luật Dân sự 2015, đặc biệt là sự xung đột quy phạm khi xử lý hậu quả pháp lý của giao dịch vượt thẩm quyền. Thông qua việc phân tích thực trạng tại Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa, công trình đưa ra các luận cứ xác đáng nhằm định hướng hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đại diện trong thực tiễn kinh doanh.