Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phùng Trọng Quế tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (năm 2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hồ Ngọc Hiển và TS. Nguyễn Văn Cương. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 9 38 01 07.
Trong hoạt động thương mại, giao nhận vận tải (GNVT) giữ vai trò cầu nối tổ chức thực hiện sự dịch chuyển quyền sở hữu hàng hóa trên thực tế. Vận tải đường bộ là phương thức vận chuyển nội địa cơ bản, đảm nhận việc kết nối, gom hàng và phân phối chuyển tiếp trong chuỗi logistics và vận tải đa phương thức. Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) tháng 07/2018, chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) của Việt Nam xếp hạng 39/160 quốc gia, tăng 25 bậc so với năm 2016 (hạng 64/160). Tuy nhiên, chi phí logistics tại Việt Nam vẫn ở mức cao (năm 2014 chiếm khoảng 20,9% GDP, sau đó duy trì ở mức 16% đến 17% GDP; trong đó chi phí vận tải đường bộ chiếm gần 60% tổng chi phí logistics).
Phần lớn doanh nghiệp GNVT đường bộ trong nước có quy mô nhỏ và vừa, vốn thấp, hoạt động manh mún, chủ yếu cạnh tranh về giá hoặc làm thầu phụ, đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài. Về mặt pháp lý, hệ thống quy định điều chỉnh dịch vụ GNVT đường bộ bộc lộ nhiều điểm bất cập:
- Khái niệm logistics trong Luật Thương mại năm 2005 còn tiếp cận theo nghĩa hẹp, chưa bao quát đầy đủ tính chất chuỗi cung ứng hiện đại.
- Quy định về điều kiện kinh doanh còn tạo gánh nặng "hai tầng điều kiện" và thủ tục hành chính, cản trở quyền gia nhập thị trường.
- Quy định về vận chuyển hàng hóa đặc biệt (như hàng nguy hiểm tại Nghị định số 42/2020/NĐ-CP) chưa hoàn toàn tương thích với các điều ước và thông lệ quốc tế như Hiệp định ADR.
- Chế định hợp đồng dịch vụ GNVT đường bộ còn sơ sài; quy định giới hạn trách nhiệm của thương nhân (mức trần 500 triệu đồng) chưa bao quát các trường hợp vi phạm về thời gian giao hàng và thiệt hại gián tiếp.
Trước yêu cầu thực hiện Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025, luận án xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
-
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm sáng tỏ lý luận về dịch vụ và pháp luật dịch vụ GNVT đường bộ, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật cùng thực tiễn thi hành tại Việt Nam, luận án đề xuất các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi trong giai đoạn đến năm 2030.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước; xác định cơ sở lý thuyết, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của đề tài.
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ GNVT đường bộ (khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung) và lý luận pháp luật điều chỉnh dịch vụ này (khái niệm, đặc điểm, cấu trúc, nội dung cơ bản).
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực thi pháp luật về dịch vụ GNVT đường bộ ở Việt Nam; chỉ rõ ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
- Xác định các yêu cầu cơ bản và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ GNVT đường bộ.
-
Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học pháp lý và hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam điều chỉnh dịch vụ GNVT đường bộ; thực tiễn áp dụng và thực thi các quy định này.
-
Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Luận án tiếp cận dịch vụ GNVT đường bộ dưới góc độ là dịch vụ thương mại do thương nhân thực hiện nhằm mục đích sinh lợi (không nghiên cứu GNVT nội bộ của doanh nghiệp; không nghiên cứu chuyên sâu về thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp). Nội dung tập trung vào: khái niệm, đặc điểm, điều kiện kinh doanh, giao nhận hàng hóa đặc biệt, hợp đồng dịch vụ, quyền và nghĩa vụ, miễn trừ và giới hạn trách nhiệm.
- Không gian: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam, có nghiên cứu đối sánh với pháp luật của một số quốc gia và thông lệ quốc tế (Bỉ, Đức, Ireland, Bắc Âu, Ukraina, Úc, thông lệ FIATA, Hiệp định ADR, Công ước CMR).
- Thời gian: Tập trung từ năm 2006 (khi Luật Thương mại năm 2005 có hiệu lực) đến thời điểm nghiên cứu; số liệu thực tiễn được khảo sát trong giai đoạn 05 năm gần nhất; các giải pháp định hướng đến năm 2030 (có điểm lại bối cảnh từ sau Đại hội Đảng VI năm 1986 và Luật Thương mại năm 1997).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan theo ba nhóm chủ đề chính:
Nhóm nghiên cứu về lý luận
- Giáo trình và sách chuyên khảo kinh tế: Giáo trình "Vận tải và giao nhận trong ngoại thương" của Trường Đại học Ngoại thương do Nguyễn Như Tiến chủ biên (2004) cung cấp kiến thức nền tảng về tổ chức giao nhận, địa vị người giao nhận và đặc thù vận tải đường bộ; Giáo trình "Giao nhận, vận tải và bảo hiểm" do Đỗ Quốc Dũng chủ biên (2004) phân tích mối quan hệ giữa logistics và vận tải giao nhận; Sách chuyên khảo "Logistics – khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam" của Nguyễn Như Tiến (2004) tiếp cận logistics như một phương thức kinh doanh trong doanh nghiệp vận tải; Tác phẩm "Logistics (Cơ bản - Thực hành - Các tình huống)" của Harald Gleissner và J. Klaus tiếp cận quản trị logistics dưới góc độ kinh tế học; Sách chuyên khảo "Logistics những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam" của Viện Nghiên cứu kinh tế và phát triển do Đặng Đình Đào chủ biên (2015); Các công trình nghiên cứu của Đoàn Thị Hồng Vân, Đinh Lê Hải Hà (2012), Đặng Đình Đào (2011), Jake Rheude (2020) phân biệt vai trò giữa người giao nhận (Freight Forwarder) và nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba (3PL).
- Công trình lý luận pháp lý: Simone Lamont-Black và D. Rhidian Thomas (2013) trong "Current Issues in Freight Forwarding: law and logistics" phân tích địa vị pháp lý, rủi ro hợp đồng và các điều kiện kinh doanh chuẩn của người giao nhận tại Đức, Ireland, Bắc Âu; Tổ chức ESCAP (2011, 2013) với các tài liệu hướng dẫn về tiêu chuẩn tối thiểu, quy tắc ứng xử và điều kiện gia nhập ngành đối với dịch vụ giao nhận và logistics tại châu Á; Jané và Alfonso de Ochoa (2006) với "Sổ tay hợp đồng logistics: hướng dẫn thực hành"; Đào Thị Cấm (2020) với Luận án tiến sĩ "Hợp đồng dịch vụ logistics theo pháp luật Việt Nam hiện nay"; Ngô Thị Hải Xuân trong Giáo trình Giao nhận vận tải quốc tế (2013) phân tích trách nhiệm pháp lý của người giao nhận trong hệ thống Common Law (theo chế định đại lý) và Civil Law (theo chế định đại lý hoa hồng); Nguyễn Thị Dung chủ biên (2020) trong Giáo trình "Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư".
Nhóm nghiên cứu về thực trạng và thực tiễn thực thi pháp luật
- Nghiên cứu pháp lý chuyên sâu: Borka Tusevska (2015) nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý và giới hạn trách nhiệm của người giao nhận theo luật quốc gia và thông lệ FIATA; Jan Ramberg (2011) nghiên cứu về sự thống nhất luật vận tải quốc tế và hợp đồng gia nhập; Mikhail Selivanov (2012) phân tích trách nhiệm của người giao nhận đường bộ theo luật Ukraina và Công ước CMR; Adry Poelmans (2016) phân tích quyền khởi kiện của người giao nhận theo luật Bỉ; Roy Gilad và Grossman (2018) nghiên cứu trách nhiệm đối với việc giao hàng chậm; Maurice Lynch (2017) phân tích giá trị pháp lý của điều khoản tiêu chuẩn dưới dạng email footer tại Úc; Vũ Thị Nhung (2009) và Bùi Thái Hà (2012) với các luận văn thạc sĩ luật học về pháp luật logistics tại Việt Nam; Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam (VLI, 2014) với Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về quản lý logistics.
- Báo cáo thực tiễn ngành: Báo cáo thường niên Logistics Việt Nam của Bộ Công Thương (các năm 2018, 2019, 2020, 2021); Sách trắng Logistics của Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA, 2018); Báo cáo "Nâng cao hiệu quả ngành logistics nhằm cải thiện môi trường kinh doanh" của USAID và CIEM (2018); Báo cáo "Kho vận hiệu quả: Chìa khóa để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh" (2014) và Báo cáo "Tăng cường ngành vận tải hàng hóa đường bộ Việt Nam" (2019) của Ngân hàng Thế giới; Báo cáo VITRANSS2 của JICA và Bộ Giao thông vận tải (2010); Các báo cáo rà soát điều kiện kinh doanh và dòng chảy pháp luật của VCCI (2011, 2017, 2020); Các bài viết của luật sư Ngô Khắc Lễ (2018, 2020) về tranh chấp điều kiện kinh doanh chuẩn VLA và tác động pháp lý của dịch bệnh.
Nhóm nghiên cứu về đề xuất, giải pháp
- Các đề xuất từ Báo cáo WB của Luis C. Blancas (2015) về cơ chế tham vấn công - tư và cơ quan điều phối logistics; Đề xuất sửa đổi Luật Thương mại năm 2005 và quy định điều kiện kinh doanh của Nguyễn Tương (2012), Nguyễn Hùng (2014), Tạ Thị Thùy Trang (2020), Võ Thị Thanh Linh và Nguyễn Thị Thu Hoài (2020) về bổ sung các khái niệm 1PL đến 4PL, NVOCC, MTO, LSP, e-logistics và bãi bỏ mức trần giới hạn trách nhiệm 500 triệu đồng.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Phần lớn các công trình đã công bố tiếp cận dịch vụ giao nhận và logistics thuần túy dưới góc độ kinh tế học, quản trị kinh doanh hoặc khảo cứu chung về toàn bộ ngành logistics. Các nghiên cứu pháp lý trước đây thường chỉ tập trung vào một khía cạnh riêng lẻ (như hợp đồng dịch vụ logistics) hoặc được thực hiện trên cơ sở các văn bản pháp luật cũ đã hết hiệu lực (như Nghị định số 140/2007/NĐ-CP). Luận án của nghiên cứu sinh Phùng Trọng Quế là công trình khoa học chuyên sâu ở cấp độ tiến sĩ luật học đầu tiên nghiên cứu toàn diện và có hệ thống cả về mặt lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật riêng đối với dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ ở Việt Nam theo chuyên ngành Luật Kinh tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng các lý thuyết và khái niệm pháp lý - kinh tế nền tảng:
- Lý thuyết về dịch vụ thương mại: Bản chất pháp lý của hoạt động cung ứng dịch vụ sinh lợi của thương nhân; các đặc tính pháp lý của quan hệ dịch vụ.
- Lý thuyết về đại lý và hợp đồng thương mại: Địa vị pháp lý kép của người giao nhận (đại lý đại diện hoặc người ủy thác trong quan hệ với chủ hàng và bên thứ ba; sự chuyển hóa từ đại lý thuần túy sang bên nhận trách nhiệm chính - Principal/Carrier).
- Lý thuyết về quản lý nhà nước đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện: Sự can thiệp của Nhà nước nhằm bảo vệ trật tự công cộng, an toàn giao thông và môi trường đối với ngành dịch vụ sử dụng phương tiện giao thông vận tải đường bộ.
- Chế định trách nhiệm dân sự và giới hạn trách nhiệm thương mại: Nguyên tắc phân bổ rủi ro, căn cứ miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của thương nhân cung ứng dịch vụ.
| Tiêu chí phân loại dịch vụ GNVT |
Các nhóm dịch vụ cụ thể được xác định trong luận án |
| Theo phạm vi không gian |
- Giao nhận nội địa - Giao nhận quốc tế |
| Theo nghiệp vụ chuyên môn |
- Giao nhận thuần túy (gửi đi hoặc nhận đến) - Giao nhận tổng hợp (xếp dỡ, đóng gói, lưu kho, vận tải, hải quan, bảo hiểm) |
| Theo tính chất tổ chức |
- Giao nhận riêng (giao nhận nội bộ do chủ hàng tự thực hiện) - Giao nhận chuyên nghiệp (thương nhân cung ứng dịch vụ thu thù lao) |
| Theo phương thức vận tải |
- Giao nhận đường bộ - Giao nhận đường biển - Giao nhận đường hàng không - Giao nhận đường sắt - Giao nhận vận tải đa phương thức |
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận án là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý định tính, sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu: Thu thập văn bản pháp luật, án lệ, báo cáo chuyên ngành trong nước và quốc tế (triển khai xuyên suốt các chương).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các khái niệm, đặc điểm, cấu trúc pháp luật về dịch vụ GNVT đường bộ (sử dụng tại Chương 1, Chương 2, Chương 3).
- Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu các quy phạm pháp luật Việt Nam với quy định của một số quốc gia châu Âu, châu Á và các điều ước quốc tế như Công ước CMR 1961, Hiệp định ADR, điều kiện kinh doanh chuẩn FIATA (sử dụng tại Chương 2, Chương 3).
- Phương pháp đánh giá và hệ thống hóa: Rà soát toàn diện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam hiện hành, đối chiếu với thực tiễn thực thi thông qua báo cáo của Bộ Công Thương, VCCI, VLA, WB (sử dụng tại Chương 3).
- Phương pháp dự báo khoa học: Dự báo xu hướng phát triển và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi đến năm 2030 (sử dụng tại Chương 4).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Nguồn văn bản pháp luật: Luật Thương mại năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Giao thông đường bộ năm 2008; Nghị định số 163/2017/NĐ-CP, Nghị định số 10/2020/NĐ-CP, Nghị định số 42/2020/NĐ-CP; các điều ước quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam tham gia.
- Nguồn dữ liệu thực tiễn và thống kê: Báo cáo Logistics Việt Nam thường niên của Bộ Công Thương; Báo cáo và số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), Tổng cục Thống kê, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm: nhóm vấn đề lý luận, nhóm thực trạng và thực tiễn thực thi pháp luật, nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật. Tác giả chỉ ra rằng đa số công trình nghiên cứu hiện có tiếp cận logistics dưới góc độ kinh tế học; các công trình pháp luật thường nghiên cứu dịch vụ logistics nói chung hoặc hợp đồng dịch vụ logistics mà chưa đi sâu vào dịch vụ GNVT đường bộ. Từ đó, chương xác định các nội dung luận án kế thừa (khái niệm, mối quan hệ giữa GNVT và logistics, phân loại người giao nhận, quy tắc quản lý của ESCAP) và xác lập khung phân tích, phương pháp luận cho toàn bộ đề tài.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ và pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ
Chương 2 làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản của dịch vụ và pháp luật về dịch vụ GNVT đường bộ:
- Khái niệm: Dịch vụ GNVT đường bộ là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của việc cung ứng dịch vụ liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa bằng phương thức vận tải đường bộ nhằm mục đích sinh lợi.
- Năm đặc điểm của dịch vụ GNVT đường bộ:
- Mang đầy đủ các đặc tính của dịch vụ thương mại (tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không đồng nhất, tính không cất trữ được và không chuyển quyền sở hữu).
- Là ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong nền kinh tế do gắn với nguồn nguy hiểm cao độ và an toàn hàng hóa.
- Gắn liền với cơ sở vật chất kỹ thuật đặc thù của phương thức vận tải đường bộ (tuyến đường bộ được phân thành 5 cấp ngoài đô thị, tiêu chuẩn kỹ thuật theo 3 loại địa hình đồng bằng, đồi, núi; phương tiện ô tô phân theo tải trọng, cấu tạo thùng xe và phạm vi phục vụ).
- Hoạt động mang tính tổ hợp chỉ làm thay đổi vị trí không gian của hàng hóa mà không làm thay đổi bản chất kỹ thuật hay cơ lý hóa của hàng hóa.
- Chịu sự tác động trực tiếp của điều kiện ngoại cảnh và các hiệp định vận chuyển khu vực, quốc tế.
- Địa vị pháp lý của người giao nhận: Người giao nhận đường bộ có thể đảm nhận các vai trò pháp lý khác nhau tùy thuộc vào thỏa thuận hợp đồng: Môi giới hải quan (Customs broker), Đại lý (Agent), Người chuyên chở chính (Principal/Carrier), Người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO), Người vận tải không sở hữu tàu/phương tiện (NVOCC), Nhà cung cấp dịch vụ logistics (LSP).
- Lý luận pháp luật về dịch vụ GNVT đường bộ: Luận án xác định pháp luật về dịch vụ GNVT đường bộ là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, thực hiện và quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ GNVT đường bộ. Cấu trúc pháp luật bao gồm: nhóm quy phạm về chủ thể và điều kiện kinh doanh; nhóm quy phạm về hợp đồng dịch vụ GNVT đường bộ (giao kết, thực hiện, quyền và nghĩa vụ); nhóm quy phạm về giao nhận hàng hóa đặc biệt; nhóm quy phạm về chế độ trách nhiệm pháp lý, giới hạn trách nhiệm và miễn trách nhiệm.
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 phân tích thực trạng các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và đánh giá thực tiễn thi hành:
- Đánh giá thực trạng pháp luật: Hệ thống pháp luật đã tạo hành lang pháp lý cơ bản, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và từng bước hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều hạn chế:
- Khái niệm dịch vụ logistics trong Luật Thương mại năm 2005 còn bó hẹp, sử dụng cụm từ "một hoặc nhiều công việc" gây hiểu nhầm về phân định giữa dịch vụ đơn lẻ và dịch vụ chuỗi trọn gói.
- Quy định điều kiện kinh doanh còn hiện tượng trùng lặp ("hai tầng điều kiện"), gây khó khăn cho doanh nghiệp khi vừa phải đáp ứng điều kiện chung về logistics vừa phải đáp ứng điều kiện vận tải đường bộ.
- Quy định về vận chuyển hàng nguy hiểm (Nghị định số 42/2020/NĐ-CP) còn bất cập, chưa tương thích hoàn toàn với thông lệ quốc tế (như Hiệp định ADR).
- Quy định về hợp đồng dịch vụ GNVT còn sơ sài; giá trị pháp lý của các điều kiện kinh doanh chuẩn (STC của VLA) chưa được hướng dẫn rõ ràng trong áp dụng thực tế.
- Quy định giới hạn trách nhiệm tại Điều 238 Luật Thương mại năm 2005 quy định mức trần 500 triệu đồng đối với mỗi khiếu nại là chưa phù hợp với tính chất đa dạng của các lô hàng có giá trị cao, thiếu quy định giới hạn trách nhiệm đối với hành vi giao chậm hàng hóa.
- Thực tiễn thực thi pháp luật: Dựa trên số liệu tổng hợp (Bảng 1 về Khối lượng hàng hóa vận chuyển, Bảng 2 về Khối lượng hàng hóa luân chuyển qua các năm, số liệu đăng ký thành lập doanh nghiệp ngành vận tải, kho bãi), luận án chỉ ra:
- Hoạt động GNVT đường bộ chiếm tỷ trọng vận tải áp đảo trong nước nhưng chi phí vận tải chiếm tới gần 60% tổng chi phí logistics.
- Các doanh nghiệp trong nước chủ yếu cạnh tranh về giá, năng lực tài chính và quản trị rủi ro thấp, ít tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người giao nhận.
- Tình trạng xe chạy rỗng chiều về còn phổ biến do thiếu liên kết và chưa tối ưu hóa hoạt động điều vận.
Chương 4: Các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 xác định phương hướng và các giải pháp cụ thể:
- Các yêu cầu hoàn thiện pháp luật: (1) Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật kinh tế; (2) Tương thích với các cam kết và điều ước quốc tế (WTO, CPTPP, ASEAN, ADR, CMR); (3) Đảm bảo quyền tự do kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm chi phí tuân thủ; (4) Thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số và phát triển thương mại điện tử (e-logistics).
- Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Sửa đổi Luật Thương mại năm 2005 (Mục 4 Chương VI): Hoàn thiện khái niệm dịch vụ logistics và dịch vụ GNVT theo hướng tiếp cận chuỗi cung ứng; thể chế hóa các định chế 1PL, 2PL, 3PL, 4PL, NVOCC, MTO, LSP; sửa đổi quy định về giới hạn trách nhiệm theo hướng bỏ mức trần cứng 500 triệu đồng, bổ sung chế định giới hạn trách nhiệm đối với trường hợp giao chậm hàng hóa.
- Hoàn thiện điều kiện kinh doanh: Bãi bỏ các điều kiện kinh doanh trùng lặp, chuyển mạnh từ phương thức tiền kiểm sang hậu kiểm đối với thương nhân cung ứng dịch vụ GNVT đường bộ.
- Hoàn thiện quy định về giao nhận hàng hóa đặc biệt: Rà soát, sửa đổi Nghị định số 42/2020/NĐ-CP theo hướng hài hòa hóa danh mục và quy chuẩn kỹ thuật an toàn của Hiệp định ADR.
- Quy định cụ thể về hợp đồng và điều kiện kinh doanh chuẩn: Thừa nhận và hướng dẫn hiệu lực áp dụng của các điều kiện kinh doanh chuẩn (STC) trong quan hệ hợp đồng dịch vụ giao nhận.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật:
- Thành lập cơ quan điều phối liên ngành (Ủy ban Logistics Quốc gia) và tăng cường vai trò đầu mối quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.
- Nâng cao năng lực và vai trò tự quản của Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) trong việc ban hành, phổ biến điều kiện kinh doanh chuẩn và đào tạo chuyên môn.
- Đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, phát triển các trung tâm logistics đa phương thức để giảm chi phí vận tải.
- Nâng cao nhận thức pháp lý của doanh nghiệp về bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người giao nhận và quản trị hợp đồng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về khoa học pháp lý và thực tiễn:
-
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về dịch vụ GNVT đường bộ và pháp luật điều chỉnh dịch vụ GNVT đường bộ trong nền kinh tế thị trường.
- Phân tích bản chất, 5 đặc điểm cơ bản của dịch vụ GNVT đường bộ và phân định mối quan hệ biện chứng giữa giao nhận vận tải truyền thống với dịch vụ logistics tích hợp.
- Làm rõ sự đa dạng về địa vị pháp lý của người giao nhận đường bộ (từ đại lý thuần túy sang chủ thể nhận trách nhiệm chính - Principal/Carrier, MTO, LSP) và các nội dung cấu thành khung pháp lý điều chỉnh hoạt động này.
-
Về mặt thực tiễn:
- Đánh giá có hệ thống thực trạng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam điều chỉnh dịch vụ GNVT đường bộ (Luật Thương mại năm 2005, Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Nghị định số 163/2017/NĐ-CP, Nghị định số 42/2020/NĐ-CP); chỉ rõ những khoảng trống và điểm mâu thuẫn, chồng chéo.
- Phân tích thực trạng thực thi pháp luật gắn với các số liệu ngành (chi phí logistics, cơ cấu chi phí vận tải đường bộ gần 60%, thực trạng quy mô doanh nghiệp nhỏ lẻ, tranh chấp về điều kiện kinh doanh chuẩn).
- Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ gồm sửa đổi văn bản luật (Luật Thương mại năm 2005, các nghị định chuyên ngành) và các giải pháp tổ chức thi hành (thành lập Ủy ban Logistics Quốc gia, nâng cao vai trò của VLA, hoàn thiện hạ tầng và bảo hiểm trách nhiệm) định hướng thực hiện đến năm 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu dịch vụ giao nhận hàng hóa trong phương thức vận tải đường bộ dưới góc độ dịch vụ thương mại sinh lợi; không nghiên cứu các phương thức vận tải độc lập khác (đường biển, đường sắt, hàng không thuần túy) và không nghiên cứu hoạt động giao nhận nội bộ. Luận án cũng không đi sâu phân tích toàn diện thủ tục tố tụng tư pháp tại Tòa án và Trọng tài thương mại trong giải quyết tranh chấp giao nhận.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu cơ chế chuyên biệt về giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh từ dịch vụ GNVT đường bộ và dịch vụ logistics đa phương thức tại Trọng tài thương mại.
- Nghiên cứu khung pháp lý điều chỉnh các mô hình dịch vụ giao nhận vận tải điện tử (e-logistics), nền tảng số và sàn giao dịch vận tải hàng hóa đường bộ trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Giá trị tham khảo
Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà làm luật: Là nguồn tư liệu tham khảo phục vụ quá trình rà soát, sửa đổi Mục 4 Chương VI Luật Thương mại năm 2005, Luật Giao thông đường bộ và xây dựng các nghị định hướng dẫn thi hành về quản lý dịch vụ logistics, kinh doanh vận tải đường bộ và vận chuyển hàng hóa nguy hiểm.
- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ GNVT và logistics: Cung cấp cơ sở pháp lý và hướng dẫn thực tiễn giúp doanh nghiệp nắm vững quyền, nghĩa vụ, phòng ngừa rủi ro hợp đồng, sử dụng điều kiện kinh doanh chuẩn (STC) và tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
- Cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu: Là tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế và ngành Quản trị Logistics.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả luận án đưa ra định nghĩa dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ như thế nào?
Trả lời: Dịch vụ GNVT đường bộ được định nghĩa là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của việc cung ứng dịch vụ liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa bằng phương thức vận tải đường bộ nhằm mục đích sinh lợi.
2. Chi phí logistics và chi phí vận tải đường bộ ở Việt Nam được số liệu trong luận án phản ánh như thế nào?
Trả lời: Theo các tài liệu được tác giả tổng hợp, chi phí logistics tại Việt Nam năm 2014 chiếm khoảng 20,9% GDP, giai đoạn sau đó chiếm khoảng 16% đến 17% GDP (cao hơn Thái Lan và Singapore). Trong đó, chi phí vận tải đường bộ chiếm tỷ trọng gần 60% tổng chi phí logistics.
3. Theo luận án, quy định về giới hạn trách nhiệm của thương nhân cung ứng dịch vụ logistics trong Luật Thương mại năm 2005 có điểm bất cập gì?
Trả lời: Luận án chỉ ra rằng mức giới hạn trách nhiệm 500 triệu đồng đối với mỗi khiếu nại quy định tại Luật Thương mại năm 2005 là mức trần cứng nhắc, chưa bao quát được các trường hợp hàng hóa có giá trị cao; đồng thời luật còn thiếu quy định về giới hạn trách nhiệm đối với trường hợp phát sinh thiệt hại do việc giao chậm hàng hóa.
4. Luận án đề xuất giải pháp lập pháp cụ thể nào đối với Luật Thương mại năm 2005?
Trả lời: Luận án đề xuất sửa đổi Mục 4 Chương VI Luật Thương mại năm 2005 theo hướng: mở rộng định nghĩa dịch vụ logistics bao quát toàn bộ chuỗi cung ứng; thể chế hóa các mô hình 1PL, 2PL, 3PL, 4PL, NVOCC, MTO, LSP; bãi bỏ mức trần giới hạn trách nhiệm 500 triệu đồng và bổ sung quy định giới hạn trách nhiệm đối với hành vi giao chậm hàng hóa.
5. Luận án xác định người giao nhận đường bộ có thể đảm nhận những tư cách pháp lý nào?
Trả lời: Người giao nhận đường bộ có thể đảm nhận các tư cách: Môi giới hải quan (Customs broker), Đại lý (Agent), Người chuyên chở chính (Principal/Carrier), Người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO), Người vận tải không sở hữu phương tiện (NVOCC) và Nhà cung cấp dịch vụ logistics (LSP).
Kết luận
Luận án "Pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Phùng Trọng Quế là công trình nghiên cứu chuyên sâu cấp tiến sĩ thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về dịch vụ và pháp luật dịch vụ GNVT đường bộ. Công trình đã phân tích sâu sắc thực trạng các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và đánh giá thực tiễn thực thi trong mối tương quan với các cam kết quốc tế và số liệu ngành logistics. Trên cơ sở đó, luận án đã đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm sửa đổi Luật Thương mại năm 2005, hoàn thiện các nghị định chuyên ngành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dịch vụ GNVT đường bộ tại Việt Nam đến năm 2030.