Luận văn tốt nghiệp về dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Vinalink Logistics

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển của công ty cổ phần logistics, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Logistics

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

107
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

1.1. Vấn đề chung về logistics

1.1.1. Khái niệm Logistics là gì?

1.1.2. Vai trò của logistics

1.1.2.1. Vai trò của logistics đối với nền kinh tế quốc dân
1.1.2.2. Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp

1.2. Dịch vụ giao nhận

1.2.1. Khái niệm về dịch vụ giao nhận

1.2.2. Nội dung cơ bản của dịch vụ giao nhận

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ GIAO NHẬP HÀNG NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LOGISTICS VINALINK GIAI ĐOẠN 2016 - 2018

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH DỊCH VỤ GIAO NHẬP HÀNG NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LOGISTICS VINALINK

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển ngày càng trở nên quan trọng. Việt Nam, với vị trí địa lý thuận lợi và bờ biển dài, có tiềm năng lớn trong việc phát triển dịch vụ logistics. Việc gia nhập các tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC đã mở ra nhiều cơ hội cho nền kinh tế, kéo theo nhu cầu về vận chuyển hàng hóa. Theo thống kê, hơn 75% khối lượng hàng hóa trong thương mại quốc tế được vận chuyển bằng đường biển. Điều này cho thấy vai trò của giao nhận hàng trong việc tối ưu hóa quy trình vận chuyển và giảm chi phí cho doanh nghiệp. Vinalink Logistics, một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực này, đã có những bước tiến đáng kể trong việc cung cấp dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, công ty cũng đối mặt với nhiều thách thức như hệ thống phần mềm chưa đáp ứng yêu cầu, cơ sở vật chất hạn chế, và chất lượng dịch vụ cần cải thiện.

II. Đối tượng và mục đích nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty Cổ phần Logistics Vinalink. Mục đích chính là phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của dịch vụ logistics này. Nghiên cứu sẽ tập trung vào việc tổng quan lý thuyết về giao nhận hàng, phân tích thực trạng hoạt động của Vinalink trong giai đoạn 2016-2018, và đưa ra các giải pháp cụ thể để cải thiện dịch vụ. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp Vinalink nâng cao vị thế cạnh tranh mà còn góp phần vào sự phát triển chung của ngành logistics tại Việt Nam.

III. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu, các phương pháp như thống kê mô tả, so sánh và nghiên cứu lý thuyết đã được áp dụng. Phương pháp thống kê mô tả giúp mô tả các đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính và hoạt động của Vinalink trong giai đoạn 2016-2018. Phương pháp so sánh được sử dụng để đánh giá hiệu quả của dịch vụ giao nhận hàng qua các năm, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm. Cuối cùng, phương pháp nghiên cứu lý thuyết giúp tổng hợp các khái niệm và lý thuyết liên quan đến giao nhận hànglogistics, làm cơ sở cho các phân tích và đề xuất giải pháp trong nghiên cứu.

IV. Kết cấu của khóa luận

Khóa luận được chia thành ba chương chính. Chương 1 tập trung vào cơ sở lý luận về giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển, bao gồm khái niệm và vai trò của logistics trong nền kinh tế. Chương 2 phân tích thực trạng dịch vụ giao nhận hàng tại Công ty Cổ phần Logistics Vinalink trong giai đoạn 2016-2018, chỉ ra những thành tựu và thách thức mà công ty gặp phải. Chương 3 đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu, giúp Vinalink nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường. Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo sẽ được trình bày ở phần cuối của khóa luận.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Chương 2: Thực trạng dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty Cổ phần Logistics Vinalink giai đoạn 2016 - 2018 Chương 3: Giải pháp nhằm đẩy mạnh dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty Cổ phần Logistics Vinalink 4 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU BẰNG ĐƢỜNG BIỂN 1. Vấn đề chung về logistics 1. Khái niệm Logistics là gì? Đây là một khái niệm vẫn còn mới mẻ đối với phần lớn người Việt Nam, tuy nhiên trên thế giới thuật ngữ “logistics” đã xuất hiện từ lâu. Lúc mới đầu du nhập vào Việt Nam, nhiều người cho rằng logistics là hậu cần hay tiếp nhận hoặc tổ chức dịch vụ cung ứng,… Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về logistics.

Ngay từ giai đoạn đầu mới xuất hiện thuật ngữ logistics người ta đã đưa ra khái niệm như sau: “Logistics là hoạt động quản lý quá trình vận chuyển và lưu kho của: Nguyên vật liệu đi vào xí nghiệp; Hàng hóa, bán thành phẩm trong quá trình sản xuất; Sản phẩm cuối cùng đi ra khỏi xí nghiệp” (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Theo Hội đồng quản lý logistics Hoa Kỳ (Council of logistics Management – CLM): “Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng” (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals - CSCMP): “Logistics là một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu giữ các loại hàng hóa, dịch vụ có liên quan đến thông tin và điểm cung cấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng nhu vầu của khách hàng”. Luật thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra khái niệm “logistics” mà đưa ra khái niệm “dịch vụ logistics” như sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” (Điều 233 - Luật Thương mại Việt Nam năm 2005).

5 Luan van Qua các khái niệm trên, ta thấy rằng sự khác nhau về từ ngữ và cách diễn đạt, nhưng các tác giả đều cho rằng: Logistics là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối đến tay người tiêu dùng. Mục đích là giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hóa một cách kịp thời. Vai trò của logistics Logistics như định nghĩa ở trên là cầu nối giữa thị trường và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Phạm vi của logistics bao trùm lên toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, từ việc quản lý nguyên vật liệu đến việc giao sản phẩm cho khách hàng.

Tổng chi phí logistics toàn cầu hàng năm chiếm 14% GDP của thế giới. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Logistics có chức năng rất rộng và có ảnh hưởng rất lớn đến toàn xã hội. Trong thời đại ngày nay người ta luôn mong muốn những dịch vụ hoàn hảo và điều đó sẽ đạt được khi phát triển logistics.

(GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Logistics ngày càng được coi trọng vì các nguyên nhân khác nhau như công nghệ thông tin phát triển, các tổ chức ngày càng coi trọng việc phục vụ khách hàng, các khái niệm tiếp cận hệ thống (system approach) và tổng chi phí (total cost), đòn bẩy lợi nhuận từ logistics (Profit Leverage from Logistics) ngày càng được nhiều người công nhận, và nhiều người ngày càng nhận thấy rằng logistics có thể được sử dụng như một vũ khí chiến lược trong cạnh tranh trên thị trường. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Tác động của đòn bẩy lợi nhuận (Profit Leverage) của logistics thể hiện ở chỗ: 1 USD tiết kiệm được trong chi phí logistics có tác động lớn hơn nhiều đến khả năng thu lợi nhuận của tổ chức so với việc tăng 1 USD trong doanh số bán hàng.

Nếu tăng 1 USD doanh số bán hàng không có nghĩa là tăng 1 USD lợi nhuận. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Tiếp cận hệ thống (System approach) là khái niệm then chốt trong logistics. Bản thân logistics là một hệ thống của nhiều hoạt động liên quan nhằm mục đích quản lý một cách trật tự dòng luân chuyển vật tư và nhân lực trong kênh logistics.

Tiếp cận hệ thống quy định bằng mọi chức năng hay hoạt động cần được hiểu theo 6 Luan van nghĩa chúng tác động tới và bị tác động như thế nào bởi các yếu tố khác mà chúng có quan hệ tương hỗ. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Nếu chỉ nhìn vào các hoạt động một cách riêng lẻ thì không thấy được cái toàn cục; kết quả của hàng chuỗi hoạt động sẽ lớn hơn nhiều so với kết quả của từng hoạt động riêng biệt. Để đáp ứng việc thực hiện các đơn hàng của khách hàng, nếu duy trì lượng hàng dự trữ lớn sẽ làm tăng chi phí dự trữ hàng trong kho, làm tăng rủi ro hàng bị lạc hậu, mất giá vô hình.

Để thấy được phải hoàn thiện hoạt động của tổ chức ở những khâu nào, lĩnh vực nào, toàn bộ hệ thống của đơn vị đó phải được xem xét một cách toàn diện, tổng thể. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Tiếp cận hệ thống là then chốt để hiểu vai trò của logistics trong nền kinh tế, vai trò của logistics đối với một tổ chức, đơn vị và hiểu giao diện của logistics trong marketing, trong khái niệm tổng chi phí và chiến lược logistics. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.

Vai trò của logistics đối với nền kinh tế quốc dân Logistics đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, thể hiện ở hai mặt: Thứ nhất, logistics là một trong những khoản chi phí lớn cho kinh doanh, do vậy nó có tác động tới và chịu tác động bởi các hoạt động kinh tế khác. Thứ hai, logistics hỗ trợ cho dòng luân chuyển của nhiều giao dịch kinh tế, một số hoạt động quan trọng tạo thuận lợi cho việc bán hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ. Logistics tạo ra giá trị gia tăng bằng cách tạo ra “các tiện ích”. Theo quan điểm kinh tế, việc sử dụng thể hiện giá trị và sự hữu ích của một mặt hàng hay dịch vụ nào đó trong việc đáp ứng một yêu cầu nào đó của người sử dụng.

Logistics đưa ra 4 tiện ích: - Tiện ích về hình dáng, mẫu mã; - Tiện ích về sở hữu; - Tiện ích về thời gian; - Tiện ích về địa điểm. Tiện ích về hình dáng, mẫu mã và tiện ích về sở hữu không liên quan cụ thể tới logistics, nhưng không thể đạt được hai loại tiện ích này nếu không có được đúng loại sản phẩm cần thiết cho tiêu dùng hay sản xuất tại đúng thời điểm vào 7 Luan van đúng thời gian với đúng điều kiện và đúng giá cả, đó là “5 chữ đúng” của Logistics, là cốt lõi của 2 loại tiện ích do logistics trực tiếp mang lại là: tiện ích về thời gian và tiện tích địa điểm. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Tiện ích thời gian: là giá trị gia tăng khi có được một sản phẩm nào đó vào đúng lúc cần nó.

Tiện ích về thời gian có thể xảy ra trong một đơn vị, cũng có thể xảy ra trên thị trường. Một sản phẩm chẳng giúp ích cho người nào đó không có được sản phẩm đó vào đúng lúc anh ta cần nó. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Nếu không có tiện ích thời gian và tiện ích địa điểm do logistics mang lại, sẽ không thỏa mãn được yêu cầu của khách hàng.

Như vậy nếu hàng hóa, dịch vụ bị ách tắc ở khâu nào đó trong sản xuất, trong lưu thông ở một nơi nào đó vào một thời điểm nào đó mà không đạt được “5 chữ đúng” trong logistics đều gây thiệt hại cho hoạt động logistsics nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Nếu xem xét ở góc độ tổng thể, logistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa. Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế.

Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền logistics hoạt động liên tục, nhịp nhàng. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗi logistics, theo đó các nguồn tài nguyên được biến đổi thành sản phẩm và điều quan trọng là giá trị được tăng lên cho cả khách hàng lẫn người sản xuất, giúp thỏa mãn nhu cầu của mỗi người. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.

Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp, logistics có vai trò rất to lớn, logistics giúp giải quyết đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quy trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ,… Logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có được chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn, ngược lại có không ít doanh nghiệp khó khăn, thậm chí thất bại, phá sản do có những quyết định sai lầm trong hoạt động logistics. 8 Luan van Ngày nay để tìm được vị trí tốt hơn, kinh doanh hiệu quả hơn, các tập đoàn đa quốc gia, các công ty nhỏ đủ mạnh đã và đang nỗ lực tìm kiếm trên toàn cầu nhằm tìm kiếm được nguồn nguyên liệu, nhân công, vốn, bí quyết công nghệ, thị trường tiêu thụ, môi trường kinh doanh,… tốt nhất và thế là logistsic toàn cầu hình thành và phát triển.

Ngoài ra, logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là marketing hỗ hợp (4P – Right Product, Right Price, Proper Promotion, and Right Place). Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích hợp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn tốt nghiệp về dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Vinalink Logistics" tập trung vào việc phân tích và đánh giá các dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu qua đường biển của công ty Vinalink Logistics. Tác giả đã trình bày chi tiết về quy trình, thách thức và cơ hội trong lĩnh vực logistics, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hoạt động của Vinalink Logistics mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của dịch vụ giao nhận hàng trong thương mại quốc tế.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực logistics và thương mại điện tử, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về quản lý chất lượng dịch vụ chuyển phát thương mại điện tử của Bưu điện Việt Nam, nơi phân tích chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực chuyển phát, hay Luận văn về thương mại điện tử và kinh tế thị trường tại Việt Nam, cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển của thương mại điện tử trong nền kinh tế hiện đại. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ về hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam và xu thế hội nhập quốc tế, giúp bạn nắm bắt các khía cạnh pháp lý và thương mại trong lĩnh vực này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về logistics và thương mại điện tử tại Việt Nam.