Chương 1: Cơ sở lý luận về giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Chương 2: Thực trạng dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty Cổ phần Logistics Vinalink giai đoạn 2016 - 2018 Chương 3: Giải pháp nhằm đẩy mạnh dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty Cổ phần Logistics Vinalink 4 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU BẰNG ĐƢỜNG BIỂN 1. Vấn đề chung về logistics 1. Khái niệm Logistics là gì? Đây là một khái niệm vẫn còn mới mẻ đối với phần lớn người Việt Nam, tuy nhiên trên thế giới thuật ngữ “logistics” đã xuất hiện từ lâu. Lúc mới đầu du nhập vào Việt Nam, nhiều người cho rằng logistics là hậu cần hay tiếp nhận hoặc tổ chức dịch vụ cung ứng,… Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về logistics.
Ngay từ giai đoạn đầu mới xuất hiện thuật ngữ logistics người ta đã đưa ra khái niệm như sau: “Logistics là hoạt động quản lý quá trình vận chuyển và lưu kho của: Nguyên vật liệu đi vào xí nghiệp; Hàng hóa, bán thành phẩm trong quá trình sản xuất; Sản phẩm cuối cùng đi ra khỏi xí nghiệp” (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Theo Hội đồng quản lý logistics Hoa Kỳ (Council of logistics Management – CLM): “Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng” (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals - CSCMP): “Logistics là một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu giữ các loại hàng hóa, dịch vụ có liên quan đến thông tin và điểm cung cấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng nhu vầu của khách hàng”. Luật thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra khái niệm “logistics” mà đưa ra khái niệm “dịch vụ logistics” như sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” (Điều 233 - Luật Thương mại Việt Nam năm 2005).
5 Luan van Qua các khái niệm trên, ta thấy rằng sự khác nhau về từ ngữ và cách diễn đạt, nhưng các tác giả đều cho rằng: Logistics là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối đến tay người tiêu dùng. Mục đích là giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hóa một cách kịp thời. Vai trò của logistics Logistics như định nghĩa ở trên là cầu nối giữa thị trường và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Phạm vi của logistics bao trùm lên toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, từ việc quản lý nguyên vật liệu đến việc giao sản phẩm cho khách hàng.
Tổng chi phí logistics toàn cầu hàng năm chiếm 14% GDP của thế giới. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Logistics có chức năng rất rộng và có ảnh hưởng rất lớn đến toàn xã hội. Trong thời đại ngày nay người ta luôn mong muốn những dịch vụ hoàn hảo và điều đó sẽ đạt được khi phát triển logistics.
(GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Logistics ngày càng được coi trọng vì các nguyên nhân khác nhau như công nghệ thông tin phát triển, các tổ chức ngày càng coi trọng việc phục vụ khách hàng, các khái niệm tiếp cận hệ thống (system approach) và tổng chi phí (total cost), đòn bẩy lợi nhuận từ logistics (Profit Leverage from Logistics) ngày càng được nhiều người công nhận, và nhiều người ngày càng nhận thấy rằng logistics có thể được sử dụng như một vũ khí chiến lược trong cạnh tranh trên thị trường. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Tác động của đòn bẩy lợi nhuận (Profit Leverage) của logistics thể hiện ở chỗ: 1 USD tiết kiệm được trong chi phí logistics có tác động lớn hơn nhiều đến khả năng thu lợi nhuận của tổ chức so với việc tăng 1 USD trong doanh số bán hàng.
Nếu tăng 1 USD doanh số bán hàng không có nghĩa là tăng 1 USD lợi nhuận. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Tiếp cận hệ thống (System approach) là khái niệm then chốt trong logistics. Bản thân logistics là một hệ thống của nhiều hoạt động liên quan nhằm mục đích quản lý một cách trật tự dòng luân chuyển vật tư và nhân lực trong kênh logistics.
Tiếp cận hệ thống quy định bằng mọi chức năng hay hoạt động cần được hiểu theo 6 Luan van nghĩa chúng tác động tới và bị tác động như thế nào bởi các yếu tố khác mà chúng có quan hệ tương hỗ. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Nếu chỉ nhìn vào các hoạt động một cách riêng lẻ thì không thấy được cái toàn cục; kết quả của hàng chuỗi hoạt động sẽ lớn hơn nhiều so với kết quả của từng hoạt động riêng biệt. Để đáp ứng việc thực hiện các đơn hàng của khách hàng, nếu duy trì lượng hàng dự trữ lớn sẽ làm tăng chi phí dự trữ hàng trong kho, làm tăng rủi ro hàng bị lạc hậu, mất giá vô hình.
Để thấy được phải hoàn thiện hoạt động của tổ chức ở những khâu nào, lĩnh vực nào, toàn bộ hệ thống của đơn vị đó phải được xem xét một cách toàn diện, tổng thể. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Tiếp cận hệ thống là then chốt để hiểu vai trò của logistics trong nền kinh tế, vai trò của logistics đối với một tổ chức, đơn vị và hiểu giao diện của logistics trong marketing, trong khái niệm tổng chi phí và chiến lược logistics. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.
Vai trò của logistics đối với nền kinh tế quốc dân Logistics đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, thể hiện ở hai mặt: Thứ nhất, logistics là một trong những khoản chi phí lớn cho kinh doanh, do vậy nó có tác động tới và chịu tác động bởi các hoạt động kinh tế khác. Thứ hai, logistics hỗ trợ cho dòng luân chuyển của nhiều giao dịch kinh tế, một số hoạt động quan trọng tạo thuận lợi cho việc bán hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ. Logistics tạo ra giá trị gia tăng bằng cách tạo ra “các tiện ích”. Theo quan điểm kinh tế, việc sử dụng thể hiện giá trị và sự hữu ích của một mặt hàng hay dịch vụ nào đó trong việc đáp ứng một yêu cầu nào đó của người sử dụng.
Logistics đưa ra 4 tiện ích: - Tiện ích về hình dáng, mẫu mã; - Tiện ích về sở hữu; - Tiện ích về thời gian; - Tiện ích về địa điểm. Tiện ích về hình dáng, mẫu mã và tiện ích về sở hữu không liên quan cụ thể tới logistics, nhưng không thể đạt được hai loại tiện ích này nếu không có được đúng loại sản phẩm cần thiết cho tiêu dùng hay sản xuất tại đúng thời điểm vào 7 Luan van đúng thời gian với đúng điều kiện và đúng giá cả, đó là “5 chữ đúng” của Logistics, là cốt lõi của 2 loại tiện ích do logistics trực tiếp mang lại là: tiện ích về thời gian và tiện tích địa điểm. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Tiện ích thời gian: là giá trị gia tăng khi có được một sản phẩm nào đó vào đúng lúc cần nó.
Tiện ích về thời gian có thể xảy ra trong một đơn vị, cũng có thể xảy ra trên thị trường. Một sản phẩm chẳng giúp ích cho người nào đó không có được sản phẩm đó vào đúng lúc anh ta cần nó. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Nếu không có tiện ích thời gian và tiện ích địa điểm do logistics mang lại, sẽ không thỏa mãn được yêu cầu của khách hàng.
Như vậy nếu hàng hóa, dịch vụ bị ách tắc ở khâu nào đó trong sản xuất, trong lưu thông ở một nơi nào đó vào một thời điểm nào đó mà không đạt được “5 chữ đúng” trong logistics đều gây thiệt hại cho hoạt động logistsics nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Nếu xem xét ở góc độ tổng thể, logistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa. Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế.
Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền logistics hoạt động liên tục, nhịp nhàng. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr. Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗi logistics, theo đó các nguồn tài nguyên được biến đổi thành sản phẩm và điều quan trọng là giá trị được tăng lên cho cả khách hàng lẫn người sản xuất, giúp thỏa mãn nhu cầu của mỗi người. (GS,TS Hoàng Văn Châu, 2009, tr.
Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp, logistics có vai trò rất to lớn, logistics giúp giải quyết đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quy trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ,… Logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có được chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn, ngược lại có không ít doanh nghiệp khó khăn, thậm chí thất bại, phá sản do có những quyết định sai lầm trong hoạt động logistics. 8 Luan van Ngày nay để tìm được vị trí tốt hơn, kinh doanh hiệu quả hơn, các tập đoàn đa quốc gia, các công ty nhỏ đủ mạnh đã và đang nỗ lực tìm kiếm trên toàn cầu nhằm tìm kiếm được nguồn nguyên liệu, nhân công, vốn, bí quyết công nghệ, thị trường tiêu thụ, môi trường kinh doanh,… tốt nhất và thế là logistsic toàn cầu hình thành và phát triển.
Ngoài ra, logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là marketing hỗ hợp (4P – Right Product, Right Price, Proper Promotion, and Right Place). Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích hợp.