PHẦN MỞ ĐẦU 1. Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài: Trong môi trƣờng cạnh tranh gay gắt và toàn cầu hóa nhƣ hiện nay, sự hài lòng của khách hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp. Khách hàng hài lòng chính là chìa khóa dẫn đến thành công, lợi nhuận và sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp trong bất kỳ mọi ngành kinh doanh, kể cả logistics. Là một trong những nhà cung cấp dịch vụ logistics lớn nhất thế giới, Kuehne-Nagel chuyên cung cấp các dịch vụ chất lƣợng cao.
Tuy nhiên, trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, khi mà nhiều doanh nghiệp thực hiện việc tái cấu trúc, cộng thêm mức độ cạnh tranh trên thị trƣờng giữa hàng ngàn nhà cung cấp dịch vụ logistics địa phƣơng và các nhà cung cấp quốc tế càng trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết, nhiều khách hàng chính của công ty chuyển sang sử dụng dịch vụ logistics của nhà cung cấp khác. Là một nhân viên đang công tác tại bộ phận kinh doanh của Kuehne-Nagel Việt Nam, tác giả nhận thấy rằng nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng là vấn đề cấp thiết, giúp Kuehne-Nagel Việt Nam hiểu rõ hơn về nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó giữ chân đƣợc các khách hàng hiện có và thu hút thêm đƣợc những khách hàng mới. Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ logistics tại Kuehne-Nagel Việt Nam” nhằm đƣa ra những kết luận mang tính khoa học, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng, làm nền tảng cho sự phát triển lâu dài và bền vững của công ty. Mục tiêu nghiên cứu: Trong đề tài này, tác giả hƣớng vào nghiên cứu những vấn đề sau: - Tìm hiểu, đúc kết và hệ thống đầy đủ cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng và các yếu tố tác động đến sự hài lòng khách hàng trong lĩnh vực logistics.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -2- - Xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ logistics tại công ty Kuehne-Nagel Việt Nam. - Đo lƣờng định lƣợng mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ logistics tại công ty Kuehne-Nagel Việt Nam. - Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ logistics tại công ty Kuehne-Nagel Việt Nam. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: - Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn: Sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ logistics tại công ty Kuehne-Nagel Việt Nam.
- Đối tƣợng khảo sát: đối tƣợng khảo sát chính là khách hàng đang sử dụng dịch vụ của Kuehne-Nagel. - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đƣợc thực hiện cho văn phòng Kuehne-Nagel tại TPHCM, với lƣợng khách hàng từ Đà Nẵng trở vào, dựa vào cơ sở dữ liệu khách hàng mới nhất cập nhật 2012 từ phòng Seafreight và Airfreight của công ty. Phƣơng pháp nghiên cứu: Đề tài đƣợc thực hiện bằng sự kết hợp giữa phƣơng pháp định tính và phƣơng pháp định lƣợng, trải qua 2 bƣớc: Bƣớc 1: Nghiên cứu định tính (Nghiên cứu sơ bộ) - Thông qua dữ liệu thứ cấp bao gồm các thông tin về Kuehne-Nagel lấy từ nguồn nội bộ của công ty và cơ sở lý thuyết đã tổng hợp về sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ logistics, tác giả xây dựng thang đo sơ bộ. - Tiếp theo tác giả sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm lấy ý kiến chuyên gia là những ngƣời có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực logistics, đại diện khách hàng sử dụng dịch vụ logistics để bổ sung tiêu chí đánh giá, điều chỉnh thang đo và hoàn thiện bảng câu hỏi cho quá trình nghiên cứu định lƣợng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -3- - Sau đó, tác giả tiến hành phỏng vấn thử trên 10 hồi đáp để kiểm tra tính hợp lý, rõ ràng của bảng câu hỏi trƣớc khi thực hiện nghiên cứu chính thức. Bƣớc 2: Nghiên cứu định lƣợng (Nghiên cứu chính thức) - Nghiên cứu chính thức với phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng đƣợc thực hiện thông qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp hoặc gửi thƣ điện tử bảng câu hỏi (250 bảng khảo sát đƣợc phát đi, thu về 209 bảng khảo sát hợp lệ) đo lƣờng mức độ hài lòng của khách hàng về dịch vụ logistics của công ty, đồng thời đánh giá ảnh hƣởng của các yếu tố đến sự hài lòng của khách hàng. - Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 mức độ tƣơng ứng nhƣ sau: 1. Hoàn toàn không đồng ý, 2.
Hoàn toàn đồng ý. - Số liệu khảo sát đƣợc xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0: đánh giá độ tin cậy Cronbach Alpha của thang đo, phân tích nhân tố EFA để xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng khách hàng, tƣơng quan và hồi quy tuyến tính để xây dựng mô hình mô tả mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ logistics, kiểm định sự phù hợp của mô hình. Tính mới của đề tài: Một số đề tài nghiên cứu về sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ logistics, điển hình nhƣ: * Đỗ Thị Thu Hà, (2008), Đo lường sự thỏa mãn của khách hàng về chất lượng dịch vụ giao nhận vận tải của Damco trực thuộc công ty TNHH Maersk Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Kinh tế TPHCM. * Nguyễn Thị Tuyết Hân, (2008) “Đo lường mức độ hài lòng khách hàng vể dịch vụ giao nhận hàng không tại Công ty cổ phần giao nhận vận tải và thương mại Vinalink”, Luận văn Thạc sỹ - Đại học Kinh tế TPHCM.
* Nguyễn Thị Mai Thy, (2011), The Determinant of Customer Satisfaction with Damco Supply Chain Management Service, MBA Program – CFVG- Universite d’Economie de Ho Chi Minh Ville. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- * Trần Thị Thanh Hảo, (2012), Đo lường sư hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần vận tải và dịch vụ hàng hải, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Kinh tế TPHCM. Các nghiên cứu trên chủ yếu đo lƣờng mức độ hài lòng đối với một khía cạnh của dịch vụ logistics là chất lƣợng dịch vụ. Rất hiếm nghiên cứu xác định các yếu tố tác động và mức độ tác động của từng nhân tố đến sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ logistics.
Hơn thế nữa, trƣớc đây cũng chƣa từng có bất cứ nghiên cứu nào về sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ của công ty Kuehne-Nagel. Trong phạm vi nội bộ công ty, đây là nghiên cứu đầu tiên tìm hiểu về các yếu tố tác động đến sự hài lòng khách hàng, đƣợc thực hiện trên quy mô rộng bao gồm cả khách hàng chỉ định và khách hàng do nhân viên kinh doanh tại Việt Nam tìm đƣợc. Nghiên cứu này chỉ ra mức độ tác động của từng thành phần đối với sự hài lòng của khách hàng, làm cơ sở để các nhà quản trị của công ty đề ra các chính sách hợp lý để cải tiến dịch vụ, giữ chân khách hàng cũ thu hút thêm khách hàng mới, tạo ra nhiều lợi nhuận và sự phát triển cho công ty. Trong phạm vi ngành, đề tài đóng góp thêm một nghiên cứu mới về sự hài lòng của khách hàng trong ngành logistics, là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu hàn lâm khác trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam.
Cấu trúc đề tài nghiên cứu: Cấu trúc đề tài nghiên cứu bao gồm 5 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ logistics và sự hài lòng của khách hàng - Chƣơng 2: Tổng quan về công ty Kuehne-Nagel - Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 4: Phân tích kết quả nghiên cứu - Chƣơng 5: Giải pháp đề xuất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1.1 Sự hài lòng của khách hàng và các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng 1.1 Định nghĩa về sự hài lòng của khách hàng : Sự hài lòng của khách hàng đã là một khái niệm quan trọng trong cả các công trình mang tính học thuật lẫn thực tiễn kinh doanh. Sự hài lòng của khách hàng đƣợc xem là yếu tố quan trọng dẫn đến mối quan hệ lâu dài giữa ngƣời mua hàng và ngƣời cung cấp sản phẩm/dịch vụ ( Geyskends et al., 1999; Woodruff & Flint, 2003), từ đó tạo ra sự trung thành của khách hàng ( Johnson & cộng sự., 2001; Lam & cộng sự, 2004) và mang lại lợi nhuận (Zeithaml, 2000; Helgesen, 2006). Sự hài lòng, có thể đƣợc xem nhƣ là một trạng thái tâm lý hoặc đánh giá của khách hàng dựa trên kinh nghiệm sử dụng sản phẩm /dịch vụ so sánh với mong đợi của khách hàng. Khái niệm này đƣợc định nghĩa theo phát biểu theo nhiều cách khác nhau.
Ví dụ, theo Tse và Wilton (1988), sự hài lòng là phản ứng ngƣời tiêu dùng đối với việc ƣớc lƣợng sự khác nhau giữa những tiêu chuẩn đặt ra và sự thể hiện thực sự của sản phẩm khi dùng nó. Theo Oliver (1997) và Zineldin (2000), sự hài lòng là một phản ứng tình cảm của khách hàng trƣớc sự khác biệt giữa cái mong đợi và cái thực nhận, liên quan đến việc đáp ứng một nhu cầu, mục tiêu, hoặc ham muốn nhất định. Kotler (2001) giải thích rõ hơn rằng sự hài lòng của khách hàng có thể phân ra ba mức độ tùy vào sự chênh lệch giữa kết quả thu đƣợc so với kỳ vọng của khách hàng: khách hàng sẽ không hài lòng nếu họ nhận thấy kết quả nhận đƣợc của sản phẩm/dịch vụ thấp hơn kỳ vọng của họ, ngƣợc lại, khách hàng sẽ hài lòng nếu kết quả nhận đƣợc của sản phẩm/dịch vụ và kỳ vọng phù hợp với nhau; khi kết quả nhận đƣợc của sản phẩm/dịch vụ vƣợc quá mức kỳ vọng, khách hàng sẽ rất hài lòng và thích thú. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- Trên thực tế, xét về sự hài lòng của khách hàng, tồn tại ít nhất hai phƣơng pháp khác nhau phân định sự hài lòng của khách hàng là: sự hài lòng tạo ra khi giao dịch (satisfaction in transaction-specific) và sự hài lòng có tính tích lũy (satisfaction in relationship-specific).
Sự hài lòng tạo ra khi giao dịch là những đánh giá của khách hàng đối với những một giao dịch xác định, còn sự hài lòng có tính tích lũy là những đánh giá tổng thể dựa trên kinh nghiệm sử dụng và tiêu dùng toàn diện của khách hàng trong một khoảng thời gian (Bitner & Hubbert, 1994; Oliver, 1997; Rust & Oliver, 1994).