Chương 1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu - Chương 2 Cơ sở lý luận – Mô hình nghiên cứu - Chương 3 Phương pháp nghiên cứu - Chương 4 Phân tích kết quả nghiên cứu - Chương 5 Kết luận và hàm ý quản trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN – MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ đưa ra các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu như doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu và phát triển bền vững và nguồn nhân lực. Tiếp đến sẽ tìm hiểu về mô hình nghiên cứu đề xuất và cơ sở xác lập các yếu tố môi trường cũng như thực trạng cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu.1 Cơ sở lý thuyết về phát triển bền vững của doanh nghiệp giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu quy mô vừa và nhỏ: - Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Khu vực Số lao động Tổng Số lao động Tổng nguồn Số lao nguồn vốn vốn động I. Nông, 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 lâm nghiệp xuống trở xuống người đến đồng đến người đến và thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và xuống trở xuống người đến đồng đến người đến xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III.
Thương 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến vụ 50 người tỷ đồng 100 người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 (Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009, điều 3) - Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc (Luật thương mại 2005, điều 233). Để thống nhất cách gọi tên về “Dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu” và giới hạn phạm vi nghiên cứu thì Dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu là thành phần của dịch vụ logistics, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này gồm các công việc: khai thuê hải quan; giao nhận hàng hóa tại cảng, sân bay; vận tải nội địa, doanh nghiệp có thể thực hiện từng công đoạn riêng lẻ, cũng có thể thực hiện tất cả ba công đoạn trên. - Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai”, theo khái niệm tại báo cáo Brundtland của Ủy ban môi trường và phát triển thế giới, 1987 - “Phát triển bền vững là khả năng doanh nghiệp giải quyết mối quan hệ bởi các yếu tố môi trường bên trong và môi trường bên ngoài tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp.”, theo Phan Văn Đàn, 2016 - “Nguồn nhân lực” hay nguồn lực con người bao gồm tất cả nhân viên có kinh nghiệm, thông minh, có kiến thức, có kỹ năng hay năng lực.
Để nguồn lực có giá trị thì phải hiếm, khó sao chép và không dễ thay thế, theo Fred R. David, Quản trị chiến lược khái luận và các tình huống, 2015, trang 110).2 Lược khảo các công trình nghiên cứu trước có liên quan (1) Phan Văn Đàn (2016), Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu: “phát triển bền vững các doanh nghiệp thủy sản là lĩnh vực sản xuất hàng hóa, có thương hiệu uy tín, có khả năng cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở phát huy lợi thế của một ngành sản xuất – khai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thác lợi thế của nghề nuôi trồng thủy sản và chế biến thủy sản, tạo sự phát triển đồng bộ, đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bạc Liêu và cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long.” Đây là mô hình được sử dụng cho đề tài nghiên cứu, tuy nhiên, do sự khác biệt trong lĩnh vực nghiên cứu giữa lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, nên cần điều chỉnh lại một vài yếu tố cũng như biến quan sát cho phù hợp. Mô hình này gồm có 9 yếu tố môi trường tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu bao gồm: Khách hàng, Xu hướng thị trường, Thiếu nhu cầu các bên liên quan, Chính sách hỗ trợ Nhà nước, An sinh xã hội là 5 yếu tố môi trường bên ngoài và Lực lượng lao động, Chủ sở hữu/ Người quản lý, Chất lượng sản phẩm, Phòng chống ô nhiễm môi trường là 4 yếu tố môi trường bên trong. (2) Phạm Thị Mỹ Lệ (2012), Nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự phát triển của ngành logistics trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: có ba yếu tố vĩ mô bao gồm: công nghệ, kinh tế và chính sách luật.
Bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp phải vận dụng và tận dụng công nghệ để phục vụ công việc của mình, công nghệ phát triển như vũ bão về mọi mặt, hàng ngày hàng giờ, nếu doanh nghiệp không áp dụng công nghệ thì sẽ tự tụt hậu, tự đào thải, cho nên yếu tố công nghệ hiện nay được xem là yếu tố đầu vào tự nhiên (phải tôn trọng bản quyền). Có thể thấy, đây chỉ là các yếu tố bên ngoài, mang tầm vĩ mô, chưa bao quát được hết vấn đề cần thiết để phát triển doanh nghiệp, trong đó khách hàng và nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong thành công và phát triển doanh nghiệp. (3) Đặng Nguyễn Tất Thành (2014), Các tiêu chí cốt lõi ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics tại TP Hồ Chí Minh: khách hàng lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics dựa vào 6 yếu tố: tin cậy – cung cấp dịch vụ chính xác và đúng cam kết, đảm bảo – trình độ chuyên môn của nhân viên và thương hiệu của doanh nghiệp, hữu hình – trang thiết bị cũng như vị trí của công ty, đồng cảm – thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng, trong đó cốt lõi là yếu tố con người, đáp ứng – sự mong muốn và sẵn sàng phục vụ; phản hồi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nhanh chóng, cập nhật chi phí liên tục và đa dạng dịch vụ và giá cả - giá cả dịch vụ phải phù hợp với chất lượng dịch vụ và phải cạnh tranh. (4) Nguyễn Thị Vân Anh (2015), Nghiên cứu về kỳ vọng của khách hàng đối với dịch vụ logistics của các công ty giao nhận vận tải trên địa bàn Tp.
Hồ Chí Minh: kỳ vọng của khách hàng đối với dịch vụ logistic gồm 6 yếu tố: khả năng đáp ứng – là năng lực phục vụ thông qua chuyên môn của nhân viên và sự sẵn sàng dịch vụ, sự đảm bảo – tạo ra sự tin tưởng và tín nhiệm đối với khách hàng, giá cả - giá cả cạnh tranh là yếu tố then chốt mang tính quyết định, thông tin – thông tin giá cả và các thủ tục, quy định, chính sách mới cần được cập nhật liên tục, quan hệ khách hàng – quan tâm, thấu hiểu từng cá nhân khách hàng và yếu tố hữu hình – là cơ sở rõ ràng cho sự nhận xét và đánh giá của khách hàng. Cả hai nghiên cứu (3) và (4) liên quan đến chất lượng dịch vụ mà doanh nghiệp cần quan tâm để đáp ứng kỳ vọng của khách hàng, từ đó giúp khách hàng lựa chọn dịch vụ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong lĩnh vực dịch vụ đôi khi giá cả chưa phải là yếu tố chính để quyết định lựa chọn dịch vụ, giá phải cạnh tranh nhưng với môi trường chưa ổn định như hiện nay thì chưa đủ cơ sở để tính toán được giá cạnh tranh nên thay vì cạnh tranh về giá hãy cùng nhau cạnh tranh nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng kỳ vọng của khách hàng thì khi đó khách hàng sẽ đồng ý chi trả mức giá hợp lý nhất. Tác giả vẫn sử dụng năm thành phần chất lượng dịch vụ của mô hình SERVQUAL.
(5) Nguyễn Thị Kim Ngân (2014), Các nhân tố tác động đến dòng thương mại Việt Nam và các nước tham gia đàm phán hiệp định TPP: dịch chuyển xuất nhập khẩu trong các nước tham gia TPP theo hướng tích cực; có bốn giải pháp được tác giả đưa ra, bao gồm: tỷ giá hối đoái linh hoạt, đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu dựa trên các sản phẩm chủ lực có chất lượng và thương hiệu, hỗ trợ giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp xuất nhập khẩu và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Các giải pháp nêu trên chưa đề cập đến lĩnh vực dịch vụ trong khi dịch vụ là một phần quan trọng của các hiệp định thế hệ mới, ví dụ, trong hiệp định TPP, có hẳn một chương (chương mười) nói về thương mại dịch vụ. (6) Nguyễn Thị Tuyết Ngọc (2013), Các thành phần của quản lý tri thức tác động đến sự hài lòng công việc: Nghiên cứu nhân viên ngành logistics tại TP.HCM: ổn định nhân sự, giữ chân người tài giỏi thì việc nâng cao sự hài lòng trong công việc là việc làm cần thiết, từ đó nhân viên sẽ có xu hướng gắn bó lâu dài với công ty. Có bốn thành phần trong quản lý tri thức để tạo sự hài lòng trong công việc, đó là sự sáng tạo tri thức, sự sử dụng tri thức, sự chia sẻ tri thức và sự tích lũy tri thức.