Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải theo pháp luật Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Văn Trường dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Thư, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2018, thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính (mã số: 9.02).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hệ thống giao thông vận tải (GTVT) Việt Nam bao gồm đầy đủ 5 phương thức: đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải và hàng không. Trong giai đoạn 2011–2016, ngành GTVT chứng kiến sự chuyển đổi quy mô lớn về thể chế và phương thức quản trị:

  • Hơn 60 dự án đầu tư tư nhân quy mô lớn về hạ tầng (cầu đường, cao tốc, cảng biển, luồng hàng hải, nhà ga sân bay) theo hình thức BOT với tổng vốn hơn 186 nghìn tỷ đồng.
  • Hơn 140 doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ GTVT được cổ phần hóa, thoái vốn hoặc chuyển giao (bao gồm các đơn vị quy mô lớn như Tổng công ty Hàng không Việt Nam, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam, các CIENCO 1, 4, 5, 6, 8).
  • Hơn 11.000 doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, hợp tác xã tham gia kinh doanh vận tải đường bộ, đường thủy nội địa; số lượng phương tiện tăng bình quân 20–30%/năm, riêng đường bộ đạt gần 50 triệu phương tiện.
  • Xuất hiện nhiều phương thức vận tải mới và ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành: Vận tải đa phương thức (Multimodal transport / combined transport), Giao thông thông minh (Intelligent Transport System - ITS), dịch vụ logistics, hệ thống quản lý tàu biển VTS, quản lý tàu sông AIS, quản lý vận tải hàng không Saber, quản lý gọi xe công nghệ Grab, Uber.

Sự phát triển nhanh chóng làm nảy sinh nhiều thách thức: Tai nạn giao thông giai đoạn 2011–2016 bình quân làm chết khoảng 9.000 người/năm, bị thương trên 25.000 người/năm, thiệt hại kinh tế ước tính 2,8% GDP; chất lượng công trình BOT còn nhiều bất cập; nguy cơ uy hiếp an toàn hàng không, an toàn hàng hải tiềm ẩn; phương tiện thủy bị lưu giữ tại nước ngoài do không đạt chuẩn kỹ thuật.

Trong khi đó, cơ chế thanh tra chuyên ngành (TTCN) GTVT bộc lộ nhiều hạn chế: nhận thức lý luận chưa thống nhất; mô hình tổ chức cồng kềnh, nhiều tầng nấc; thẩm quyền còn chồng chéo giữa ngành GTVT với các ngành Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Công an, Quân đội và chính quyền địa phương; quy trình thanh tra hành chính hóa, thiếu tính linh hoạt; cơ chế thanh tra chưa tương thích hoàn toàn với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (ICAO, IMO, Tokyo MoU). Các công trình trước đó chủ yếu xem xét thanh tra hành chính chung hoặc tiếp cận ở phạm vi hẹp, chưa làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn toàn diện về thanh tra chuyên ngành GTVT dưới góc độ khoa học luật hành chính.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ luận cứ khoa học để đưa ra đề xuất, kiến nghị các giải pháp đổi mới thanh tra chuyên ngành GTVT theo pháp luật Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể theo 3 nội dung:

  1. Hệ thống hóa, phân tích và làm rõ hơn cơ sở lý luận về thanh tra chuyên ngành GTVT theo pháp luật Việt Nam.
  2. Làm rõ thực trạng thanh tra chuyên ngành GTVT theo pháp luật Việt Nam, phân tích, đánh giá thực tiễn tổ chức và hoạt động, chỉ ra những ưu điểm, tồn tại, hạn chế và xác định nguyên nhân của tồn tại, hạn chế đó nhằm củng cố cơ sở cho các phương án đổi mới, hoàn thiện.
  3. Xác định rõ nhu cầu, quan điểm và đề xuất các giải pháp có tính khả thi, khoa học đổi mới thanh tra chuyên ngành GTVT theo pháp luật Việt Nam (bao gồm đổi mới nhận thức, đổi mới tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động và hoàn thiện hệ thống pháp luật).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thanh tra chuyên ngành GTVT theo pháp luật Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tổ chức, hoạt động thanh tra chuyên ngành GTVT trong cả 5 lĩnh vực (đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng không và hàng hải) dưới góc độ luật hành chính; tham khảo các hoạt động kiểm tra, giám sát, tuần tra kiểm soát liên quan.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập, phân tích thông tin, số liệu giai đoạn 2011–2016.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống thanh tra chuyên ngành GTVT từ trung ương đến địa phương, bao gồm Thanh tra Bộ GTVT, cơ quan thanh tra tại Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục Đường sắt Việt Nam, Cục Đường thủy nội địa Việt Nam, Cục Hàng không Việt Nam, Cục Hàng hải Việt Nam và Thanh tra các Sở GTVT theo phương pháp chọn mẫu xác suất vùng, miền.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Luận án đã phân loại và khảo cứu có hệ thống 3 nhóm công trình trong nước:

  1. Nhóm nghiên cứu về lý luận thanh tra và thanh tra nhà nước:

    • Đề tài cấp bộ "Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh tra" (Quách Lê Thanh chủ nhiệm) và "Lịch sử và truyền thống ngành Thanh tra Việt Nam" (Vũ Phạm Quyết Thắng chủ nhiệm) tổng kết lịch sử và khẳng định vai trò thiết chế thanh tra trong bộ máy nhà nước.
    • Luận án phó tiến sĩ của Phạm Tuấn Khải (1995) đề xuất xây dựng hệ thống "thanh tra nhà nước chuyên ngành".
    • Đề tài cấp bộ của Phạm Văn Khanh nghiên cứu đổi mới thanh tra trong kinh tế nhiều thành phần, đề xuất chuyển thanh tra cấp hành chính sang mô hình thanh tra Quốc hội hoặc cơ quan giám sát độc lập, tăng cường thanh tra bộ và bỏ thanh tra chuyên trách cấp sở.
    • Các công trình của Trần Văn Truyền, Nguyễn Huy Hoàng (đề xuất chuyển TTCN tại Bộ/Sở thành kiểm tra chuyên ngành do cơ quan quản lý trực tiếp thực hiện), Trần Đức Lượng, Nguyễn Thị Thương Huyền (luận án tiến sĩ khẳng định thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước).
    • Giáo trình, sách chuyên khảo của Học viện Hành chính Quốc gia (2011), Đại học Luật Hà Nội (2012), Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh, Đinh Văn Minh, Vũ Công Giao về cơ quan giám sát độc lập (Ombudsman).
  2. Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về thanh tra chuyên ngành:

    • Đề tài cấp bộ của Nguyễn Tuấn Khanh làm rõ mối quan hệ giữa TTCN, kiểm tra hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
    • Đề tài cấp bộ của Nguyễn Khắc Hường khảo sát 26 bộ, cơ quan ngang bộ và 3 cơ quan thuộc Chính phủ để đề xuất mô hình TTCN theo nhóm bộ đa ngành.
    • Đề tài của Đặng Xuân Phương tiếp cận mô hình tổ chức bộ máy, xác định Tổng cục/Cục thuộc Bộ là cơ quan thực hiện chức năng TTCN có thẩm quyền xử phạt hành chính.
    • Luận án tiến sĩ của Bùi Thị Thanh Thúy đề xuất mô hình mỗi bộ, sở chỉ duy trì một tổ chức TTCN chuyên trách, tách khỏi thanh tra hành chính.
    • Bài viết của Dương Nguyễn về thí điểm TTCN an toàn thực phẩm cấp xã/phường tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; các bài báo của Nhất Anh (2014), Phạm Tuấn Khanh (2015), Hồ Thị Thu An về phân định kiểm tra và TTCN.
  3. Nhóm nghiên cứu trực tiếp về thanh tra chuyên ngành GTVT:

    • Đề tài cấp bộ "Cơ sở khoa học đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động thanh tra của Bộ GTVT" (Nguyễn Văn Hướng chủ nhiệm, Trần Văn Trường làm thư ký đề tài) đề xuất sáp nhập lực lượng thanh tra chuyên ngành an toàn giao thông và thanh tra nhà nước, tạo cơ sở thực tiễn ban hành Nghị định số 136/2004/NĐ-CP.
    • Đề án "Tăng cường biên chế, trang thiết bị cho lực lượng thanh tra giao thông vận tải" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 321/QĐ-TTg ngày 05/3/2010.
    • Các nghiên cứu chuyên môn về kiểm tra tàu biển theo cơ chế kiểm soát của quốc gia có cảng (Port State Control - PSC) của Lê Quốc Tiến (2015) và Cục Đăng kiểm Việt Nam.

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Hughes, G. và Winch, C. (1997) phân tích trách nhiệm giải trình và vai trò thanh tra trong các dịch vụ công.
  • Vivienne Thom (Australia) phân tích tính độc lập của cơ quan thanh tra tại Hội nghị Thanh tra Châu Á lần thứ 10 tổ chức tại Việt Nam.
  • Clare Lewis (Bang Ontario, Canada) luận giải về thẩm quyền và khả năng thích ứng của cơ quan thanh tra giám sát (Ombudsman).
  • Báo cáo của Cesar Cordova-Novion và Tarik Sahovic (khảo sát cải cách thanh tra tại 25 quốc gia, chỉ ra 5 mô hình tổ chức và 3 yếu tố thúc đẩy: pháp quyền, tài chính, môi trường kinh doanh).
  • Downe, J. và Martin phân tích quy trình và chi phí thanh tra dịch vụ công địa phương tại Anh.
  • Florentin Blanc (báo cáo 87 trang của OECD) tổng kết cải cách thanh tra tại Mexico, Đông Âu, Anh, Hà Lan, Lithuania, Italia.
  • Tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ của Tokyo MoU (văn bản Procedures for Port State Control dài 94 trang, 10 hoạt động kiểm tra, 8 mẫu checklist, mẫu biên bản A và B) và Cục Hàng không Liên bang Mỹ - FAA (tiêu chuẩn thanh tra viên an toàn bay Aviation Safety Inspectors yêu cầu tối thiểu 1.500 giờ bay an toàn tích lũy và 100 giờ bay trong 3 năm gần nhất).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù số lượng công trình nghiên cứu về thanh tra tương đối phong phú, song chưa có công trình nào giải quyết toàn diện các vấn đề sau:

  • Xây dựng định nghĩa, xác định bản chất, đặc điểm chuyên môn kỹ thuật mang tính dây chuyền của TTCN GTVT dưới góc độ khoa học luật hành chính trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách dịch vụ công.
  • Luận giải cơ sở lý luận và thiết lập khung pháp lý cho cơ chế ủy quyền thanh tra và hợp đồng hành chính hỗ trợ hoạt động TTCN GTVT – một phương thức huy động nguồn lực xã hội nhưng vẫn đảm bảo tính quyền lực công.
  • Đề xuất mô hình tổ chức phân cấp, giảm tầng nấc trung gian phù hợp với đặc thù quản lý của từng lĩnh vực (đường bộ, đường sắt, thủy nội địa, hàng hải, hàng không) và tương thích với các điều ước quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý luận Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh: Luận án vận dụng luận điểm của V.I. Lênin "Quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và thanh tra là một chứ không phải là hai" và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới" để xác định thanh tra là chức năng thiết yếu, không thể tách rời của quản lý nhà nước chuyên ngành.
  • Lý thuyết xã hội học pháp luật: Phân tích sự tác động qua lại giữa ý thức tuân thủ pháp luật của đối tượng quản lý với việc đổi mới phương thức, quy trình thanh tra.
  • Lý thuyết quản trị công hiện đại và nhà nước kiến tạo: Đặt hoạt động thanh tra trong mối quan hệ phục vụ xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013; chuyển đổi từ mệnh lệnh hành chính thuần túy sang quản trị kết hợp ủy quyền và hợp đồng hành chính.
  • Định nghĩa TTCN GTVT do tác giả xây dựng:

"Thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải là chức năng, công cụ và phương thức kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành giao thông vận tải đối với các tổ chức, cá nhân trong việc thi hành và tuân thủ pháp luật chuyên ngành giao thông vận tải (bao gồm điều ước quốc tế) theo hình thức, quy trình, trình tự, thủ tục do cơ quan có thẩm quyền ban hành nhằm bảo đảm trật tự, yêu cầu quản lý nhà nước chuyên ngành giao thông vận tải và hỗ trợ, thúc đẩy cho sự phát triển của xã hội theo hướng hiệu quả, thuận tiện, an toàn vì con người; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân."

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Chương Mục tiêu nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu chủ đạo
Chương 1 Tổng quan tài liệu, xác định khoảng trống nghiên cứu Thống kê, phân tích, tổng hợp tài liệu trong và ngoài nước.
Chương 2 Xây dựng cơ sở lý luận về TTCN GTVT Phân tích, tổng hợp, xã hội học pháp luật, luật học so sánh, phương pháp mô hình hóa.
Chương 3 Đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức, hoạt động Lịch sử cụ thể, thống kê số liệu, phân tích tổng hợp, so sánh, lấy ý kiến chuyên gia, tọa đàm thực tiễn.
Chương 4 Đề xuất quan điểm, mô hình và giải pháp đổi mới Phân tích, tổng hợp, luật học so sánh, phương pháp mô hình và phương pháp lịch sử cụ thể.

Nguồn dữ liệu và tư liệu

  • Văn bản quy phạm pháp luật: Luật Thanh tra năm 2004 và 2010, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật Giao thông đường bộ, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Đường sắt, Luật Giao thông đường thủy nội địa, Nghị định 136/2004/NĐ-CP, Thông tư 50/2015/TT-BGTVT.
  • Điều ước quốc tế: Công ước Chicago 1944 về Hàng không dân dụng quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển UNCLOS 1982, Thỏa thuận kiểm soát nhà nước cảng biển Tokyo MoU 1993, các tài liệu hướng dẫn Doc của ICAO và IMO.
  • Dữ liệu thực tiễn ngành GTVT giai đoạn 2011–2016: số liệu kết quả thanh tra chuyên ngành, số liệu tai nạn giao thông, số liệu đầu tư hạ tầng giao thông, số liệu chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước và thống kê phương tiện vận tải.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án

Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến thanh tra, thanh tra chuyên ngành và thanh tra chuyên ngành GTVT. Luận án phân tích chi tiết kinh nghiệm tổ chức mô hình thanh tra của các quốc gia Châu Âu (Pháp, Đức), Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Canada), Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore) và các quy chuẩn thanh tra quốc tế của ICAO, IMO, FAA.

Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây đã cung cấp nền tảng quan trọng về vị trí của thanh tra trong quản lý nhà nước, song còn thiếu các luận giải chuyên sâu về tính chất chuyên môn kỹ thuật đặc thù của ngành GTVT. Từ đó, chương này xác lập câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết tiếp cận đa ngành, liên ngành luật học làm tiền đề triển khai các nội dung tiếp theo.

Chương 2. Những vấn đề lý luận về thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải

Chương 2 làm rõ bản chất lý luận của thanh tra chuyên ngành GTVT qua 3 nội dung cốt lõi:

  1. Vị trí và vai trò của TTCN GTVT:

    • Là công cụ, phương thức kiểm soát trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước và người đứng đầu ngành GTVT. Do tính chất chuyên môn sâu, cơ quan thanh tra chuyên ngành phải có vị thế pháp lý tương xứng (ví dụ: Thanh tra Bộ có vị thế độc lập và thẩm quyền cao hơn các Vụ chuyên môn; cơ quan thanh tra tại Cục chuyên ngành cao hơn các Phòng tham mưu).
    • Kiểm định, đánh giá trình độ và hiệu quả quản lý nhà nước ngành GTVT, kịp thời phát hiện sơ hở chính sách để đề xuất sửa đổi.
    • Bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ quyền con người, quyền công dân hiến định (quyền tự do đi lại, quyền an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền tự do kinh doanh).
    • Thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ (như vụ việc thanh tra sự cố mất điện đài kiểm soát không lưu sân bay Tân Sơn Nhất dẫn tới việc tái cấu trúc tiêu chuẩn nguồn điện an toàn nhiều cấp) và tăng cường hội nhập quốc tế.
  2. Đặc điểm đặc thù của TTCN GTVT:

    • Tính chuyên sâu về chuyên môn kỹ thuật và tính dây chuyền: Hoạt động thanh tra đòi hỏi kiến thức chuyên môn kỹ thuật phức tạp (kết cấu hạ tầng, tiêu chuẩn phương tiện, điều hành bay, giám sát luồng hàng hải) liên kết theo chuỗi khép kín.
    • Tính đa dạng về chủ thể thực hiện quyền hạn:
      • Cơ chế ủy quyền thanh tra: Luận án phân định rõ ủy quyền với ủy thác và giao quyền. Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành có thể ủy quyền cho các cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân thực hiện thanh tra đối với các lĩnh vực xã hội hóa cao (hạ tầng BOT, bến bãi, trật tự an toàn giao thông), trừ các lĩnh vực an ninh quốc gia (đường băng, không lưu, an ninh cảng biển). Chủ thể ủy quyền chịu trách nhiệm pháp lý cuối cùng, phải đào tạo, sát hạch cấp thẻ nghiệp vụ và giám sát bên nhận ủy quyền.
      • Cơ chế hợp đồng hành chính hỗ trợ thanh tra: Cơ quan thanh tra ký hợp đồng với doanh nghiệp, tổ chức chuyên môn (như VEC, VIDIFI trên các tuyến cao tốc) để khai thác hạ tầng công nghệ, hệ thống camera giám sát ITS, hoặc thuê chuyên gia kỹ thuật cao (phi công, kỹ sư kiểm tra tàu bay, kiểm soát viên không lưu) phục vụ công tác thanh tra mà không làm phát sinh biên chế công quyền.
    • Tính thường xuyên, kịp thời, độc lập và linh hoạt: Phù hợp với đặc thù vận động liên tục của các phương thức vận tải.
  3. Yếu tố tác động đến điều chỉnh pháp luật về TTCN GTVT: Bao gồm sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tốc độ ứng dụng khoa học kỹ thuật, cam kết trong các điều ước quốc tế và ý thức chấp hành pháp luật của đối tượng quản lý.

Chương 3. Thực trạng thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Chương 3 khảo sát thực tiễn pháp luật và tình hình tổ chức, hoạt động thanh tra giai đoạn 2011–2016:

  • Về thực trạng pháp luật: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã từng bước định hình thẩm quyền TTCN, song Luật Thanh tra năm 2010 chưa phân định rành mạch giữa thanh tra hành chính (nội bộ bộ máy) và thanh tra chuyên ngành (kiểm soát việc chấp hành pháp luật của cá nhân, tổ chức ngoài xã hội).
  • Về thực trạng tổ chức bộ máy: Cơ cấu tổ chức thanh tra còn phân tán, mô hình tổ chức giữa trung ương và địa phương thiếu tính đồng bộ; lực lượng thanh tra chuyên ngành tại các Cục quản lý chuyên ngành còn lúng túng về địa vị pháp lý và thẩm quyền xử phạt.
  • Về thực trạng hoạt động thực tế:
    • Lực lượng thanh tra GTVT đã triển khai các đợt kiểm tra quy mô lớn; ví dụ tiêu biểu là cuộc thanh tra công tác đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe theo Quyết định số 2084/QĐ-BGTVT ngày 01/7/2016 tại Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nam, qua đó tạm đình chỉ các cơ sở đào tạo không đạt chuẩn kỹ thuật phòng học, sân bãi và phần mềm sát hạch.
    • Tuy nhiên, nhân lực làm công tác thanh tra chuyên ngành còn thiếu các chứng chỉ chuyên môn sâu (đặc biệt trong lĩnh vực hàng không, hàng hải); trang thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ chưa đáp ứng yêu cầu kiểm soát tự động; cơ chế phối hợp liên ngành trên các tuyến giao thông liên tỉnh còn nhiều vướng mắc.

Chương 4. Quan điểm, giải pháp đổi mới thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải ở Việt Nam

Chương 4 đưa ra định hướng và hệ thống giải pháp cụ thể:

  1. Quan điểm đổi mới: Quán triệt đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; chuyển đổi phương thức quản lý sang kiến tạo, phục vụ; bảo đảm tính độc lập, chuyên nghiệp và hiệu quả của lực lượng thanh tra; phù hợp với chuẩn mực và điều ước quốc tế.
  2. Mô hình tổ chức: Tái cấu trúc theo hướng tăng cường phân cấp, giảm bớt cấp trung gian (minh họa tại Sơ đồ 4.1 của luận án), phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước giữa cơ quan trung ương (quản lý vĩ mô, tiêu chuẩn kỹ thuật, các lĩnh vực hàng không, hàng hải, đường sắt quốc gia) và chính quyền địa phương (thanh tra giao thông đường bộ, đường thủy nội địa địa phương).
  3. Cơ chế thực thi:
    • Thể chế hóa cơ chế ủy quyền thanh tra và hợp đồng hành chính trong văn bản luật.
    • Ban hành danh mục các quy trình nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành chuẩn hóa (Bảng 4.1 trong luận án) và danh mục văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, ban hành mới (Bảng 4.2 trong luận án).
  4. Hoàn thiện pháp luật: Kiến nghị Quốc hội ban hành Luật Thanh tra mới thay thế Luật Thanh tra năm 2010, trong đó thiết kế một chế định độc lập về thanh tra chuyên ngành; phân định rành mạch thẩm quyền quy định chi tiết giữa Chính phủ và Bộ trưởng Bộ GTVT.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập 5 đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý và thực tiễn:

                                 5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
  1. Tổng thuật và hệ thống hóa lý luận: Khảo cứu có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế, chứng minh sự hình thành, tồn tại và phát triển của thanh tra chuyên ngành GTVT là một tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước.
  2. Xác lập khung lý luận chuyên ngành: Xây dựng định nghĩa khoa học về thanh tra chuyên ngành GTVT; làm rõ 4 vị trí, vai trò và 3 đặc điểm bản chất (tính kỹ thuật dây chuyền, tính đa dạng chủ thể, tính thường xuyên độc lập); phân tích nội dung điều chỉnh pháp luật về thanh tra GTVT gắn với bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
  3. Đề xuất mô hình tổ chức gắn với cơ chế mới: Đưa ra giải pháp thiết kế mô hình tổ chức thanh tra GTVT theo hướng tinh gọn, phân cấp mạnh mẽ, giảm tầng nấc trung gian; luận giải căn cứ khoa học để áp dụng cơ chế ủy quyền thanh tra và hợp đồng hành chính nhằm huy động nguồn lực xã hội hỗ trợ công tác thanh tra.
  4. Đổi mới phương thức hoạt động chuyên ngành: Đề xuất phương thức thanh tra, kiểm tra và các điều kiện bảo đảm (tiêu chuẩn chuyên môn kỹ thuật của thanh tra viên, trang thiết bị công nghệ) phù hợp với tính chất đặc thù của từng lĩnh vực: đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng không và hàng hải.
  5. Đề xuất hoàn thiện hệ thống thể chế: Kiến nghị xây dựng Luật Thanh tra mới thay thế Luật Thanh tra năm 2010 với chương/chế định riêng biệt về thanh tra chuyên ngành; xác định thẩm quyền của Chính phủ và Bộ trưởng Bộ GTVT; xây dựng danh mục các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống quy trình nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cần ban hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê chủ yếu trong giai đoạn 2011–2016; phạm vi phân tích giới hạn dưới góc độ khoa học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính đối với 5 lĩnh vực giao thông vận tải quốc gia mà chưa đi sâu vào chi tiết kỹ thuật vận hành cơ khí, công nghệ của từng phương tiện chuyên biệt hoặc các khía cạnh tài chính - ngân sách công chi tiết của hợp đồng hành chính.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực nghiệm tác động kinh tế - xã hội khi áp dụng cơ chế ủy quyền thanh tra và hợp đồng hành chính vào thực tế quản lý hạ tầng giao thông thông minh (ITS) và dịch vụ vận tải công nghệ mới sau năm 2018.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học cho Quốc hội, Chính phủ, Thanh tra Chính phủ và Bộ GTVT trong quá trình sửa đổi Luật Thanh tra năm 2010, xây dựng các nghị định hướng dẫn về thanh tra chuyên ngành và ban hành quy chuẩn quy trình kiểm tra an toàn GTVT.
  • Lực lượng thực thi: Là cẩm nang tham khảo thực tế cho Thanh tra Bộ GTVT, thanh tra các Tổng cục/Cục chuyên ngành và Thanh tra Sở GTVT các địa phương trong việc tổ chức lực lượng, chuẩn hóa quy trình thanh tra và áp dụng công nghệ giám sát.
  • Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về Luật Hành chính, Luật Giao thông, Khoa học quản lý nhà nước và Nghiệp vụ công tác thanh tra tại Học viện Hành chính Quốc gia, các trường đại học luật và Trường Cán bộ Thanh tra.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải như thế nào?

Thanh tra chuyên ngành GTVT được định nghĩa là chức năng, công cụ và phương thức kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành GTVT đối với tổ chức, cá nhân trong việc thi hành, tuân thủ pháp luật chuyên ngành (bao gồm điều ước quốc tế) theo hình thức, quy trình, thủ tục do cơ quan có thẩm quyền ban hành, nhằm bảo đảm trật tự quản lý, thúc đẩy phát triển xã hội an toàn, thuận tiện vì con người và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân.

2. Luận án đề xuất cơ chế ủy quyền thanh tra trong trường hợp nào?

Ủy quyền thanh tra được đề xuất áp dụng đối với các nội dung quản lý nhà nước có tính chất xã hội hóa cao, diễn ra thường xuyên, kỹ thuật phức tạp và có sự tham gia đầu tư khai thác của khu vực phi chính phủ (như quản lý hạ tầng BOT, dịch vụ xếp dỡ vận tải, bảo đảm trật tự an toàn giao thông). Cơ quan quản lý không ủy quyền đối với các lĩnh vực an ninh quốc gia hoặc có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn cốt lõi (điều hành bay, dịch vụ an ninh hàng không, an ninh cảng biển, đài kiểm soát không lưu). Việc ủy quyền phải xác lập bằng quyết định hành chính, bên ủy quyền chịu trách nhiệm pháp lý cuối cùng và phải đào tạo, cấp thẻ nghiệp vụ cho bên nhận ủy quyền.

3. Hợp đồng hành chính hỗ trợ thanh tra GTVT có vai trò gì theo đề xuất của luận án?

Hợp đồng hành chính được sử dụng để cơ quan thanh tra nhà nước ký kết với các doanh nghiệp, tổ chức có năng lực kỹ thuật nhằm thuê cung cấp thông tin, dữ liệu tự động (như trích xuất dữ liệu camera từ doanh nghiệp đầu tư cao tốc VEC, VIDIFI), thuê trang thiết bị công nghệ, hoặc thuê chuyên gia kỹ thuật bậc cao (phi công, kỹ sư tàu bay, kiểm soát viên không lưu, chuyên gia hải đồ) phục vụ các cuộc thanh tra chuyên sâu mà bộ máy nhà nước không cần tuyển dụng biên chế thường trực.

4. Vì sao luận án kiến nghị phải thay thế Luật Thanh tra năm 2010?

Luận án chỉ ra rằng Luật Thanh tra năm 2010 không phân định rõ ràng giữa thanh tra hành chính (kiểm tra nội bộ cơ quan nhà nước) và thanh tra chuyên ngành (kiểm soát việc tuân thủ pháp luật chuyên ngành của đối tượng xã hội). Sự đồng nhất về quy trình, thủ tục hành chính xơ cứng làm giảm tính linh hoạt, kịp thời và độc lập của thanh tra chuyên ngành, đặc biệt trong các lĩnh vực có tính dây chuyền kỹ thuật cao như hàng không, hàng hải và đường sắt. Do đó, cần ban hành Luật Thanh tra mới có chế định riêng biệt về thanh tra chuyên ngành.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trần Văn Trường đã giải quyết một cách có hệ thống và toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về thanh tra chuyên ngành GTVT theo pháp luật Việt Nam. Tác giả đã chứng minh tính tất yếu khách quan của thiết chế thanh tra chuyên ngành, chỉ rõ các đặc thù kỹ thuật mang tính dây chuyền và đề xuất đột phá về cơ chế ủy quyền cũng như hợp đồng hành chính trong hoạt động thanh tra. Các giải pháp về mô hình tổ chức tinh gọn, phân cấp và hoàn thiện thể chế được luận án xây dựng trên nền tảng khoa học luật hành chính vững chắc, cung cấp luận cứ giá trị cho công cuộc cải cách hành chính và đổi mới công tác quản lý nhà nước ngành GTVT.