Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải theo pháp luật Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Văn Trường, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Thư, bảo vệ năm 2018 tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Công trình thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, mã số 9.02.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong giai đoạn 2011–2016, ngành giao thông vận tải (GTVT) Việt Nam ghi nhận sự phát triển nhanh về quy mô hạ tầng và phương thức quản lý:

  • Huy động hơn 60 dự án đầu tư tư nhân quy mô lớn (cầu, đường cao tốc, cảng biển, luồng hàng hải, nhà ga sân bay) với tổng vốn hơn 186.000 tỷ đồng;
  • Hoàn thành cổ phần hóa, thoái vốn hoặc chuyển giao trên 140 doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ GTVT (bao gồm Tổng công ty Hàng không Việt Nam, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam, các CIENCO 1, 4, 5, 6, 8);
  • Có hơn 11.000 doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, hợp tác xã kinh doanh vận tải đường bộ và đường thủy nội địa;
  • Số lượng phương tiện tăng trung bình 20–30%/năm, riêng đường bộ đạt xấp xỉ 50 triệu phương tiện;
  • Xuất hiện các mô hình quản trị và công nghệ vận tải mới: Vận tải đa phương thức (multimodal transport / combined transport), giao thông thông minh (ITS), dịch vụ logistics, hệ thống quản lý tàu biển (VTS), hệ thống nhận dạng tự động tàu sông (AIS), hệ thống quản lý hàng không (Saber), ứng dụng gọi xe công nghệ (Grab, Uber).

Sự biến chuyển này kéo theo nhiều áp lực về trật tự an toàn giao thông (TTATGT). Bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2011–2016, tai nạn giao thông tại Việt Nam làm chết khoảng 9.000 người, bị thương trên 25.000 người, thiệt hại kinh tế ước tính 2,8% GDP. Trong khi đó, hệ thống tổ chức thanh tra chuyên ngành (TTCN) GTVT bộc lộ nhiều bất cập: khái niệm và nhận thức lý luận chưa thống nhất; mô hình tổ chức nhiều tầng nấc; thẩm quyền còn chồng chéo giữa trung ương và địa phương, giữa ngành GTVT với các ngành Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Công an, Quân đội; quy trình nghiệp vụ chậm đổi mới và chưa tương thích với các điều ước quốc tế (ICAO, IMO, Tokyo MOU).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là làm sáng tỏ luận cứ khoa học để đề xuất các giải pháp đổi mới thanh tra chuyên ngành GTVT theo pháp luật Việt Nam. Luận án thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa, phân tích và làm rõ cơ sở lý luận về thanh tra chuyên ngành GTVT theo pháp luật Việt Nam;
  2. Làm rõ thực trạng pháp luật, phân tích và đánh giá thực tiễn tổ chức, hoạt động thanh tra chuyên ngành GTVT theo pháp luật Việt Nam, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân;
  3. Xác định nhu cầu, quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới nhận thức, mô hình tổ chức, phương thức hoạt động và hoàn thiện hệ thống pháp luật về thanh tra chuyên ngành GTVT.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thanh tra chuyên ngành GTVT theo pháp luật Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành trong 5 lĩnh vực GTVT: đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng không và hàng hải dưới góc độ Luật Hành chính; có liên hệ với hoạt động kiểm tra, giám sát, tuần tra kiểm soát.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập, phân tích thông tin và số liệu thực tiễn giai đoạn 2011–2016.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống thanh tra ngành GTVT từ trung ương đến địa phương, gồm Thanh tra Bộ GTVT, cơ quan thực hiện chức năng TTCN tại Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục Đường sắt Việt Nam, Cục Đường thủy nội địa Việt Nam, Cục Hàng không Việt Nam, Cục Hàng hải Việt Nam và Thanh tra các Sở GTVT (chọn mẫu xác suất theo vùng miền).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến thanh tra, thanh tra chuyên ngành và thanh tra GTVT:

Các công trình nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu chung về thanh tra và đổi mới thanh tra: Đề tài cấp bộ "Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh tra" do Quách Lê Thanh chủ nhiệm [41] và "Lịch sử và truyền thống ngành Thanh tra Việt Nam" do Vũ Phạm Quyết Thắng chủ nhiệm [42] làm rõ lịch sử phát triển và vai trò thanh tra trong bộ máy nhà nước. Các công trình nghiên cứu cải cách thanh tra của Phạm Tuấn Khải [15], Phạm Văn Khanh [19], Trần Văn Truyền [44], Nguyễn Huy Hoàng [9], Trần Đức Lượng [22] nghiên cứu sự chuyển đổi thể chế từ Pháp lệnh Thanh tra 1990, Luật Thanh tra 2004 đến Luật Thanh tra 2010. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thương Huyền [10] khẳng định thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước. Về nghiệp vụ có đề tài của Nguyễn Ngọc Tản [35], Đặng Khánh Toàn [38] và tài liệu bồi dưỡng của Trường Cán bộ Thanh tra. Sách chuyên khảo của Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh; bài viết của Đinh Văn Minh, Phạm Tuấn Khải làm rõ cơ chế kiểm tra, thanh tra của Chính phủ.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về thanh tra chuyên ngành: Đề tài cấp bộ của Nguyễn Tuấn Khanh [16] xác định TTCN gắn liền với thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; đề tài của Nguyễn Khắc Hường [11] khảo sát mô hình thanh tra tại 26 Bộ, cơ quan ngang Bộ; đề tài của Đặng Xuân Phương [30] nghiên cứu thẩm quyền TTCN của Tổng cục, Cục thuộc Bộ; luận án tiến sĩ của Bùi Thị Thanh Thúy [43] đề xuất mô hình mỗi bộ, sở chỉ có một tổ chức TTCN; bài viết của Dương Nguyễn [28] về thí điểm TTCN an toàn thực phẩm cấp xã, phường; các bài viết của Nhất Anh, Phạm Tuấn Khanh, Hồ Thị Thu An phân tích TTCN dưới góc độ thực thi quyền hành chính.
  • Nghiên cứu về thanh tra ngành GTVT: Đề tài cấp bộ "Cơ sở khoa học đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động thanh tra của Bộ GTVT" do Nguyễn Văn Hướng chủ nhiệm và Trần Văn Trường làm thư ký [12] (cơ sở ban hành Nghị định 136/2004/NĐ-CP); Đề án phê duyệt kèm Quyết định 321/QĐ-TTg ngày 05/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường biên chế, trang thiết bị cho lực lượng thanh tra GTVT [32]; các bài viết chuyên môn về kiểm tra nhà nước cảng biển (PSC) của Lê Quốc Tiến [37] và tài liệu kỹ thuật của Cục Đăng kiểm Việt Nam [25].

Các công trình nghiên cứu nước ngoài

  • Sách, báo cáo quốc tế: Cuốn sách "Tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của một số nước trên thế giới" do Nguyễn Văn Kim chủ biên [13] phân tích các mô hình thanh tra tại Pháp (18 cơ quan thanh tra bộ), Đức, Anh, Nhật Bản, Ai Cập...; bài viết của Vũ Công Giao [8] về thiết chế Ombudsman và cơ quan giám sát độc lập; nghiên cứu của Hughes và Winch (1997) [58] về TTCN trong dịch vụ công; bài tham luận của Vivienne Thomi [65] về tính độc lập của thanh tra tại Australia; nghiên cứu của Clare Lewis [62] tại Ontario, Canada; báo cáo cải cách thanh tra tại 25 quốc gia của Cesar Cordova-Novion và Tarik Sahovic [64]; nghiên cứu về chi phí thanh tra dịch vụ công của Downe và Martin [10]; báo cáo cải cách thanh tra của Florentin Blanc (OECD) [7] về kinh nghiệm tại Mexico, Anh, Hà Lan, Lithuania, Italia.
  • Tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ quốc tế: Bộ tài liệu hướng dẫn kiểm tra tàu biển của Tokyo MOU (Hot-spots: Port State Control [59], Procedures for Port State Control [61], Port State Inspection Pocket Checklist [63]); quy chuẩn thanh tra an toàn hàng không của Cục Hàng không Liên bang Hoa Kỳ (FAA) (Flight Inspection Program Standards [56], Aviation Safety Inspectors [55] quy định tiêu chuẩn phi công tối thiểu 1.500 giờ bay an toàn).

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Các công trình trước đây chưa nghiên cứu toàn diện thanh tra chuyên ngành GTVT dưới góc độ khoa học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính; chưa làm rõ bản chất pháp lý, đặc điểm và cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với 5 lĩnh vực GTVT chuyên biệt; chưa xây dựng được cơ sở lý luận về cơ chế "ủy quyền thanh tra" và "hợp đồng hành chính" để huy động nguồn lực xã hội; chưa đề xuất được mô hình tổ chức phân cấp, tinh gọn cấp trung gian phù hợp với kinh tế thị trường và các chuẩn mực quốc tế.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

  • Nền tảng tư tưởng và lý luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; lý luận Mác - Lênin về quản lý nhà nước ("Quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và thanh tra là một chứ không phải là hai" - V.I. Lênin; "Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động" - C. Mác); Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh tra ("Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới"); quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách hành chính nhà nước.
  • Lý thuyết tiếp cận: Lý thuyết xã hội học pháp luật về mối quan hệ giữa ý thức tuân thủ pháp luật và phương thức kiểm soát hành chính; lý thuyết quản trị công hiện đại về phân quyền, ủy quyền và dịch vụ công.
  • Định nghĩa tác giả xây dựng: "Thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải là chức năng, công cụ và phương thức kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành giao thông vận tải đối với các tổ chức, cá nhân trong việc thi hành và tuân thủ pháp luật chuyên ngành giao thông vận tải (bao gồm điều ước quốc tế) theo hình thức, quy trình, trình tự, thủ tục do cơ quan có thẩm quyền ban hành nhằm bảo đảm trật tự, yêu cầu quản lý nhà nước chuyên ngành giao thông vận tải và hỗ trợ, thúc đẩy cho sự phát triển của xã hội theo hướng hiệu quả, thuận tiện, an toàn vì con người; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân."

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành luật học:

  • Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý các chuỗi dữ liệu thực tế về tai nạn giao thông, số cuộc thanh tra, vi phạm xử lý, dự án đầu tư và phương tiện vận tải giai đoạn 2011–2016;
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy định pháp luật, thực tiễn áp dụng và tổng hợp các luận điểm khoa học;
  • Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quy định pháp luật thanh tra Việt Nam với các điều ước quốc tế (Công ước Chicago 1944, UNCLOS 1982, Tokyo MOU 1993) và kinh nghiệm tổ chức thanh tra của các quốc gia (Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Canada, Australia, Singapore, Nhật Bản...);
  • Phương pháp điều tra, khảo sát, chuyên gia và tọa đàm: Thu thập ý kiến từ cán bộ quản lý, thanh tra viên, chuyên gia pháp lý tại các cơ quan thuộc Bộ GTVT và Sở GTVT địa phương;
  • Phương pháp mô hình hóa, sơ đồ: Xây dựng các sơ đồ tổ chức bộ máy và bảng biểu đề xuất hoàn thiện quy trình nghiệp vụ.

Nguồn dữ liệu và tư liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Hiến pháp 2013, Luật Thanh tra (1990, 2004, 2010), Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Giao thông đường bộ, Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, Luật Đường sắt, Luật Giao thông đường thủy nội địa;
  • Điều ước và tài liệu hướng dẫn quốc tế: ICAO (Doc series), IMO, Tokyo MOU, IRU;
  • Báo cáo số liệu chính thức của Bộ GTVT, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, Thanh tra Bộ GTVT, các Tổng cục, Cục chuyên ngành và Sở GTVT trong giai đoạn 2011–2016.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Chương này tổng thuật chi tiết các nhóm công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế. Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu thành 3 nhóm trong nước (nhóm nghiên cứu chung về thanh tra; nhóm nghiên cứu chuyên sâu về TTCN; nhóm nghiên cứu về thanh tra GTVT) và 2 nhóm quốc tế (công trình nghiên cứu lý thuyết/cải cách thanh tra; tài liệu chuẩn hóa nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành). Luận án xác định các nội dung kế thừa về mặt lý luận quản lý nhà nước, đồng thời chỉ rõ những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo: sự thiếu hụt khung lý luận về TTCN GTVT, khoảng trống pháp lý về cơ chế ủy quyền thanh tra và hợp đồng hành chính hỗ trợ hoạt động thanh tra, cũng như yêu cầu thiết kế lại bộ máy thanh tra tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian.

Chương 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA CHUYÊN NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng cho đề tài:

  • Vị trí, vai trò của thanh tra chuyên ngành GTVT: Luận án chỉ ra 4 vai trò chủ yếu: (1) Là công cụ, phương thức kiểm soát của cơ quan và người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành; (2) Kiểm định, đánh giá hiệu lực, trình độ quản lý nhà nước trong ngành GTVT; (3) Bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ quyền con người và quyền cơ bản của công dân được hiến định; (4) Thúc đẩy ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ và hội nhập quốc tế (dẫn chứng từ vụ xử lý sự cố mất điện tại Đài kiểm soát không lưu Tân Sơn Nhất dẫn đến hiện đại hóa nguồn điện an toàn nhiều cấp).
  • Đặc điểm của thanh tra chuyên ngành GTVT:
    1. Tính chuyên sâu về kỹ thuật và quy tắc quản lý có tính dây chuyền: Hoạt động thanh tra đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật gắn liền với quy trình vận hành phức tạp (hàng không đòi hỏi thanh tra viên là phi công, kiểm soát viên không lưu; đường bộ gắn liền với phân cấp địa phương; dẫn chứng cuộc thanh tra sát hạch lái xe tại Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nam theo Quyết định 2084/QĐ-BGTVT ngày 01/7/2016 của Bộ trưởng Bộ GTVT);
    2. Tính đa dạng về chủ thể thực hiện: Luận chứng cơ sở lý luận về "ủy quyền thanh tra" (chuyển giao thẩm quyền kèm kiểm soát chặt chẽ cho tổ chức, doanh nghiệp quản lý kết cấu hạ tầng, dịch vụ phụ trợ) và "hợp đồng hành chính" (cơ chế ký hợp đồng với tổ chức cung cấp dữ liệu kỹ thuật từ camera/giám sát hành trình như VEC, VIDIFI hoặc thuê chuyên gia kỹ thuật cao, kỹ sư tàu bay, hải đồ);
    3. Tính chất thường xuyên, kịp thời, độc lập và linh hoạt: Bắt nguồn từ tính chất vận động liên tục theo chuỗi của các phương thức giao thông vận tải.

Chương 3. THỰC TRẠNG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 3 phân tích thực trạng văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn vận hành bộ máy thanh tra GTVT:

  • Tình hình pháp luật: Hệ thống văn bản quy định về TTCN GTVT còn phân tán, thiếu đồng bộ giữa Luật Thanh tra 2010 và các luật chuyên ngành; chưa có chế định phân định rạch ròi giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành; thiếu quy định điều chỉnh các phương thức vận tải công nghệ cao và vận tải đa phương thức.
  • Tổ chức và hoạt động thực tế: Cơ cấu tổ chức cồng kềnh, nhiều cấp trung gian; thẩm quyền xử phạt và biện pháp ngăn chặn hành chính tại chỗ còn hạn chế; việc phối hợp liên ngành giữa Thanh tra GTVT với Cảnh sát giao thông, Cảnh sát trật tự, chính quyền địa phương còn chồng chéo hoặc khoảng trống; chế độ đãi ngộ và trang thiết bị kỹ thuật chưa tương xứng với yêu cầu chuyên môn cao.
Chỉ tiêu thống kê ngành GTVT giai đoạn 2011–2016 Giá trị / Tình trạng ghi nhận trong luận án
Số dự án đầu tư tư nhân kết cấu hạ tầng GTVT quy mô lớn > 60 dự án (cầu, cao tốc, cảng biển, nhà ga...)
Tổng vốn đầu tư tư nhân vào hạ tầng GTVT > 186.000 tỷ đồng
Số doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ GTVT cổ phần hóa / thoái vốn > 140 doanh nghiệp
Số doanh nghiệp, HTX vận tải tư nhân (đường bộ, thủy nội địa) > 11.000 đơn vị
Tốc độ tăng trưởng phương tiện vận tải hàng năm 20 – 30%/năm
Tổng số phương tiện giao thông đường bộ Xấp xỉ 50 triệu phương tiện
Số người chết vì tai nạn giao thông bình quân hàng năm ~ 9.000 người/năm
Số người bị thương vì tai nạn giao thông bình quân hàng năm > 25.000 người/năm
Thiệt hại kinh tế do tai nạn giao thông ước tính ~ 2,8% GDP
Số cuộc thanh tra, kiểm tra cao điểm xử lý vi phạm năm 2015 111 cuộc

Chương 4. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI THANH TRA CHUYÊN NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM

Chương 4 xác định nhu cầu, quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới toàn diện:

  • Đổi mới nhận thức: Thống nhất nhận thức TTCN là công cụ quản lý chuyên môn kỹ thuật, phân biệt rõ với thanh tra hành chính nội bộ và thanh tra nhà nước chung;
  • Đổi mới mô hình tổ chức: Thiết kế lại bộ máy theo hướng tăng cường phân cấp, giảm cấp trung gian; thiết lập cơ chế ủy quyền thanh tra và sử dụng hợp đồng hành chính trong kiểm soát chuyên ngành GTVT;
  • Đổi mới phương thức hoạt động: Xây dựng quy trình thanh tra chuẩn hóa theo từng lĩnh vực chuyên ngành (đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng hải, hàng không); áp dụng công nghệ thông tin trong phát hiện và xử lý vi phạm;
  • Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Đề xuất xây dựng Luật Thanh tra sửa đổi thay thế Luật Thanh tra 2010 với chế định riêng về TTCN; ban hành danh mục các văn bản quy phạm pháp luật và quy trình nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cần sửa đổi, bổ sung;
  • Bảo đảm các điều kiện thực thi: Nâng cao tiêu chuẩn nghiệp vụ của thanh tra viên theo chuẩn mực quốc tế, hoàn thiện chế độ chính sách và trang bị kỹ thuật chuyên dụng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận

  1. Tổng thuật, khảo cứu có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; khẳng định sự hình thành, tồn tại và phát triển của thanh tra chuyên ngành GTVT là tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước.
  2. Xây dựng hoàn chỉnh khái niệm, xác định rõ vị trí, vai trò, đặc điểm chuyên môn kỹ thuật dây chuyền và tính chất quản lý đặc thù của thanh tra chuyên ngành GTVT; làm rõ nội dung điều chỉnh pháp luật hành chính đối với lĩnh vực này.
  3. Đề xuất cơ sở lý luận cho việc áp dụng cơ chế "ủy quyền thanh tra" và "hợp đồng hành chính" trong thanh tra chuyên ngành GTVT nhằm huy động các tổ chức ngoài nhà nước tham gia hỗ trợ kiểm soát kỹ thuật hạ tầng và dịch vụ công.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp chính sách

  1. Đề xuất mô hình tổ chức thanh tra chuyên ngành GTVT theo hướng đẩy mạnh phân cấp quản lý, tinh giản các tầng nấc trung gian, phù hợp với năng lực quản lý của chính quyền địa phương và đặc thù của từng phương thức vận tải.
  2. Đổi mới phương thức hoạt động và điều kiện bảo đảm thi hành: chuẩn hóa quy trình thanh tra độc lập, thường xuyên, linh hoạt cho từng chuyên ngành đường bộ, đường sắt, thủy nội địa, hàng hải và hàng không.
  3. Đề xuất phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật: kiến nghị xây dựng Luật Thanh tra mới (thay thế Luật Thanh tra 2010) có chế định độc lập về thanh tra chuyên ngành; phân định thẩm quyền của Chính phủ và Bộ trưởng Bộ GTVT; xây dựng danh mục văn bản quy phạm pháp luật và quy trình nghiệp vụ cần ban hành (bao gồm Bảng 4.1 về đề xuất xây dựng các quy trình TTCN GTVT và Bảng 4.2 về đề xuất xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Dữ liệu thực tiễn và các chỉ tiêu thống kê chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2011–2016, chưa bao quát đầy đủ sự phát triển của các phương thức giao thông công nghệ mới trong các năm tiếp theo;
  • Luận án tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, do đó chưa đi sâu phân tích toàn diện các khía cạnh kinh tế - kỹ thuật thuần túy hoặc các chế tài xử lý theo pháp luật hình sự;
  • Việc khảo sát thực tiễn tại các địa phương mới thực hiện theo phương pháp chọn mẫu xác suất đại diện theo vùng, miền, chưa thể khảo sát toàn diện 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Nghiên cứu cơ chế kiểm soát và thanh tra đối với các mô hình kinh doanh vận tải ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phương tiện tự hành và vận tải đa phương thức thế hệ mới;
  • Đánh giá tác động pháp lý và hiệu quả kinh tế - xã hội khi triển khai thí điểm cơ chế hợp đồng hành chính và ủy quyền thanh tra trong quản lý hạ tầng giao thông BOT, cao tốc;
  • Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tài phán hành chính và quy trình giải quyết khiếu nại, khởi kiện đối với các quyết định xử lý của thanh tra chuyên ngành GTVT.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Tham khảo khung lý luận về thanh tra chuyên ngành, phương pháp tiếp cận liên ngành luật học và mô hình hóa trong nghiên cứu luật hành chính;
  • Giảng viên và cơ sở đào tạo: Làm tài liệu phục vụ giảng dạy môn Luật Hành chính, Quản lý nhà nước về GTVT, hoặc các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch Thanh tra viên, Thanh tra viên chính tại Trường Cán bộ Thanh tra;
  • Cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp: Cung cấp cơ sở khoa học và danh mục đề xuất sửa đổi văn bản phục vụ quá trình hoàn thiện Luật Thanh tra, Luật Giao thông đường bộ, Bộ luật Hàng hải và các nghị định hướng dẫn;
  • Lực lượng thanh tra GTVT: Tham khảo các phân tích về quy trình nghiệp vụ, cách thức xử lý tình huống và chuẩn hóa tiêu chuẩn thanh tra viên chuyên ngành theo chuẩn quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thanh tra chuyên ngành GTVT như thế nào?

Luận án định nghĩa TTCN GTVT là chức năng, công cụ và phương thức kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành GTVT đối với tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành (bao gồm điều ước quốc tế) theo hình thức, trình tự, thủ tục luật định nhằm bảo đảm trật tự quản lý, an toàn, hiệu quả vì con người và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân.

2. Hai cơ chế pháp lý mới nào được luận án đề xuất áp dụng trong hoạt động thanh tra GTVT?

Luận án đề xuất áp dụng cơ chế "ủy quyền thanh tra" (trao quyền bằng quyết định hành chính cho các tổ chức, đơn vị cơ sở thực hiện một số nội dung kiểm soát chuyên môn) và cơ chế "hợp đồng hành chính" (ký kết hợp đồng với các đơn vị như VEC, VIDIFI để cung cấp dữ liệu giám sát kỹ thuật, hoặc thuê chuyên gia trình độ cao như phi công, kỹ sư tàu bay hỗ trợ đoàn thanh tra).

3. Tại sao thanh tra GTVT đòi hỏi tính chất chuyên môn kỹ thuật có tính dây chuyền?

Quản lý GTVT gắn liền với các quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ giữa kết cấu hạ tầng, phương tiện và người điều khiển. Trong lĩnh vực hàng không, tính dây chuyền diễn ra từ mặt đất đến kiểm soát không lưu, đòi hỏi thanh tra viên phải có trình độ chuyên gia; trong khi ở đường bộ, tính chất quản lý gắn chặt với mạng lưới địa phương nên đòi hỏi sự phân cấp phù hợp.

4. Luận án sử dụng dữ liệu thực tiễn trong giai đoạn nào và có những số liệu tiêu biểu nào?

Luận án sử dụng số liệu giai đoạn 2011–2016, tiêu biểu gồm: hơn 186.000 tỷ đồng vốn tư nhân đầu tư vào hơn 60 dự án hạ tầng; cổ phần hóa hơn 140 doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ GTVT; quản lý gần 50 triệu phương tiện đường bộ; ghi nhận bình quân mỗi năm khoảng 9.000 người chết và trên 25.000 người bị thương do tai nạn giao thông, gây thiệt hại ước tính 2,8% GDP.

5. Luận án kiến nghị gì đối với hệ thống văn bản pháp luật về thanh tra?

Luận án kiến nghị xây dựng Luật Thanh tra mới thay thế Luật Thanh tra 2010 với chế định riêng biệt cho TTCN; phân định rõ thẩm quyền giữa Chính phủ và Bộ GTVT; ban hành các danh mục văn bản quy phạm pháp luật và quy trình thanh tra chuẩn hóa theo từng chuyên ngành vận tải.


Kết luận

Luận án "Thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải theo pháp luật Việt Nam hiện nay" của tác giả Trần Văn Trường là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về vị trí, vai trò, đặc điểm của thanh tra chuyên ngành GTVT, đồng thời đánh giá toàn diện thực trạng tổ chức và hoạt động thanh tra giai đoạn 2011–2016. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về đổi mới tư duy, hoàn thiện mô hình tổ chức phân cấp, áp dụng cơ chế ủy quyền và hợp đồng hành chính, cùng các định hướng sửa đổi pháp luật thanh tra đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong thời kỳ hội nhập.