Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THANH TRA GIAO THÔNG VẬN TẢI QUẢNG BÌNH 1. Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông 1. Khái niệm quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông Quá trình lao động xã hội đòi hỏi sự quản lý nhà nước như một hiện tượng tất yếu. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước (Hoạt động của cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp).
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là khái niệm chỉ hoạt động của hệ thống cơ quan hành pháp - cơ quan hành chính nhà nước. Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ là toàn bộ hoạt động có tổ chức, có định hướng, mang tính quyền lực của nhà nước trong quá trình quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, thiết lập, duy trì trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xây dựng văn hóa giao thông, bảo đảm giao thông đường bộ thông suốt, an toàn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế [27]. Hiện nay tai nạn và tùn tắc giao thông, đặc biệt ở các đô thị lớn đang ngày càng gia tăng, được xem là điểm nóng sự quan tâm của toàn xã hội và nhà nước. Do mật độ con người và phương tiện tham gia giao thông ngày càng tăng, đặc biệt là các phương tiện cá nhân, trong khi đó kết cấu hạ tầng giao thông không đáp ứng được yêu cầu phát triển đó và ngày càng xuống cấp nghiêm trọng.
Thêm vào đó ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông nói chung và người điều khiển phương tiện giao thông nói riêng chưa cao. Do đó, đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa trong công tác quản lý nhà nước đối với trật tự an toàn giao thông. Nội dung Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông Quản lý nhà nước về đảm bảo trật tự an toàn giao thông bao gồm những nội dung sau: - Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách đầu tư phát triển hệ thống giao thông vận tải, xây dựng và chỉ đạo thực hiện chương trình quốc gia về an toàn giao thông và các biện pháp đảm bảo giao thông vận tải được thông suốt an toàn; - Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về giao thông; - Tổ chức, quản lý, bảo trì, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông; - Đăng ký, cấp, thu hồi biển số phương tiện giao thông; cấp, thu hồi giấy chứng nhận kiểm định chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện giao thông; - Quản lý đào tạo, sát hạch lái xe; cấp, thu hồi giấy phép lái xe; - Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ về giao thông; đào tạo cán bộ và nhân công kỹ thuật giao thông; - Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về giao thông; - Hợp tác quốc tế về giao thông [29]. Chủ thể Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông Theo Điều 86 của Luật Giao thông đường bộ, trách nhiệm quản lý nhà nước gồm: - Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giao thông đường bộ.
- Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giao thông đường bộ. - Bộ Công an thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về giao thông đường bộ theo quy định của Luật Giao thông đường bộ và các quy định khác của pháp luật có liên quan; thực hiện các biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn 10 Luan van giao thông; phối hợp với Bộ Giao thông vận tải bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. - Bộ Công an, Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm phối hợp trong việc cung cấp số liệu đăng ký phương tiện giao thông đường bộ, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe. - Bộ Quốc phòng thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về giao thông đường bộ theo quy định của Luật Giao thông đường bộ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giao thông vận tải thực hiện quản lý nhà nước về giao thông đường bộ. - Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về giao thông đường bộ theo quy định của Luật Giao thông đường bộ và các quy định khác của pháp luật có liên quan trong phạm vi địa phương. Hoạt động của Thanh tra Sở Hoạt động của Thanh tra Sở bao gồm thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, hoạt động quản trị nội bộ, được thực hiện qua hình thức thanh tra theo kế hoạch, thanh tra thường xuyên và thanh tra đột xuất. Thanh tra theo kế hoạch được tiến hành theo kế hoạch đã được phê duyệt [32, Điều 37 Khoản 2].
Thanh tra thường xuyên được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành [32, Điều 37 Khoản 3]. Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luậ hoặc do thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao [32, Điều 37 Khoản 4]. 11 Luan van Chánh Thanh tra Sở căn cứ vào kế hoạch thanh tra của Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh và yêu cầu công tác quản lý của sở trình Giám đốc Sở phê duyệt kế hoạch thanh tra của năm sau trước ngày 05 tháng 12 hằng năm. Giám đốc Sở có trách nhiệm xem xét, phê duyệt kế hoạch thanh tra chậm nhất vào ngày 15 tháng 12 hằng năm.
Thời hạn của cuộc thanh tra hành chính do Thanh tra Sở tiến hành không quá 30 ngày; ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài, nhưng không quá 45 ngày, tính từ ngày công bố quyết định thanh tra đến ngày kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra. Thời hạn của cuộc thanh tra chuyên ngành do Thanh tra Sở tiến hành không quá 30 ngày; trường hợp phức tạp có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 45 ngày, tính từ ngày công bố quyết định thanh tra đến ngày kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra. Thời hạn thanh tra chuyên ngành độc lập đối với mỗi đối tượng thanh tra là 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiến hành thanh tra. Trường hợp cần thiết, Chánh Thanh tra Sở gia hạn thời gian thanh tra nhưng thời gian gia hạn không được vượt quá 05 ngày làm việc.
“Khi tiến hành thanh tra, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành được xử phạt vi phạm hành chính và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật” [32, Điều 30 Khoản 2]. Hoạt động thanh tra hành chính 1. Thanh tra hành chính theo kế hoạch Căn cứ kế hoạch thanh tra, Chánh Thanh tra Sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính theo kế hoạch. Đối với vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, đơn vị hoặc đối với vụ việc đặc biệt phức tạp, liên quan đến 12 Luan van trách nhiệm quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành; căn cứ kế hoạch thanh tra, Giám đốc sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn Thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra.
Thanh tra hành chính đột xuất Thanh tra hành chính đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật; theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng hoặc do Giám đốc Sở giao. Chánh Thanh tra Sở ra quyết định thanh tra đột xuất, thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra và gửi quyết định thanh tra đột xuất đến Giám đốc Sở để báo cáo. Đối với vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, đơn vị hoặc đối với vụ việc đặc biệt phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành thì Giám đốc Sở ra quyết định thanh tra đột xuất, thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra. Hoạt động thanh tra chuyên ngành 1.
Thanh tra chuyên ngành theo kế hoạch Thanh tra chuyên ngành theo kế hoạch được thực hiện bởi Đoàn thanh tra hoặc do Thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra chuyên ngành độc lập. Căn cứ kế hoạch thanh tra, Chánh Thanh tra Sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra. Đối với những vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, đơn vị thì Giám đốc Sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra. Chánh Thanh tra Sở căn cứ vào kế hoạch thanh tra phân công Thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý tiến hành thanh tra chuyên ngành độc lập.
Quyết định phân công bao phải thể hiện họ, tên, chức danh, số hiệu thẻ của Thanh tra viên hoặc của công chức thanh tra; phạm vi, nội dung, nhiệm vụ thanh tra; thời gian tiến hành thanh tra. 13 Luan van Thanh tra viên hoặc công chức thanh tra tiến hành thực hiện nhiệm vụ thanh tra theo sự phân công của Chánh Thanh tra Sở. Trong quá trình thanh tra, có quyền yêu cầu đối tượng thanh tra xuất trình giấy phép, đăng ký kinh doanh, chứng chỉ hành nghề và cung cấp thông tin, tài liệu, giải trình về vấn đề liên quan; lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính về việc vi phạm của đối tượng thanh tra theo quy định của pháp luật (trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật vượt quá thẩm quyền xử lý thì phải báo cáo Chánh Thanh tra xem xét, xử lý). Khi kết thúc thanh tra, Thanh tra viên phải báo cáo Chánh Thanh tra Sở bằng văn bản về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Báo cáo phải nêu rõ nội dung, kết quả thanh tra, các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền, biện pháp đã kiến nghị xử lý (nếu có) và phải lưu hồ sơ thanh tra.