Chương 1 KHÁI QUAT VE KINH DOANH VAN TAI DUONG BỘ NỘI DIA BANG TAXI VA PHAP LUAT VE KINH DOANH VAN TAI BANG TAXI TAI VIET NAM 1. Khai quát về kinh doanh Vận tai đường bộ nội dia 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại vận tải đường bộ nội địa 1. Khải niệm Vận tải đường bộ nội địa là một khái niệm hữu hình và cụ thể, đề cập đến hoạt động chuyên chở hàng hóa và người thông qua mạng lưới đường bộ nội địa trong một quốc gia cu thé.
Tai Viét Nam, van tai đường bộ là hoạt động sử dụng phương tiện giao thông đường bộ dé vận chuyên hàng hóa, con người trên đường bộ (theo Luật Giao thông đường bộ 2008) [9]. Vận tải đường bộ nội địa đóng vai trò quan trọng và cung cấp một hệ thống vận chuyển quan trọng trong cơ sở hạ tầng giao thông của một quốc gia. Nó chịu trách nhiệm vận chuyền hàng hóa từ các khu vực sản xuất và khu công nghiệp đến các điểm tiêu thụ, từ các khu vực nông thôn đến các khu vực đô thị và từ cảng biển đến các vùng nội địa. Vận tải đường bộ nội địa là cầu nối kết nối các khu vực kinh tế và địa lý khác nhau, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia [28].
Hoạt động vận tải đường bộ nội địa đòi hỏi sự tuân thủ và tuân thủ chặt chẽ các quy định và quy trình pháp luật dé đảm bao an toàn và hiệu quả. Các quy định pháp luật liên quan đến vận tải đường bộ nội địa bao gồm giấy phép vận tải, quy định về trọng lượng và kích thước của phương tiện, quy tắc an toàn giao thông, thuế và lệ phí, cũng như các quy định về đăng ký và kiểm tra phương tiện. Đặc điểm Vận tải đường bộ nội địa, như một phần không thể thiếu của hệ thống vận tải quốc gia, đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc liên kết và thúc đây sự phát triển kinh tế xã hội. Hệ thống mạng lưới đường bộ nội địa không chỉ là các con đường và tuyến giao thông, mà còn tạo thành một mạch máu chảy, nối liền mọi góc cạnh của đất nước.
Mạng lưới đường bộ nội địa đóng một vai trò tối quan trọng trong việc kết nối và thúc đây sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Hệ thống vận tải đường bộ nội địa, dựa trên các tuyến đường và cơ sở hạ tầng giao thông nội địa, tạo điều kiện thuận lợi để di chuyển hàng hóa và người dân trong phạm vi đất nước. Pham vi hoạt động của van tải đường bộ nội địa là việc chuyền chở hàng hóa và người từ điểm xuất phát đến điểm đích trong cùng một quốc gia. Đây không chỉ bao gồm vận tải nông sản, hàng hóa công nghiệp, vật liệu xây dựng và hàng tiêu dùng, mà còn bao hàm cả vận tải hành khách, tạo nên một sự đa dạng và phong phú trong hoạt động vận chuyền.
Vận tải đường bộ nội địa tận dụng các loại phương tiện giao thông đường bộ như ô tô, xe tải, xe khách, xe buýt và xe máy dé thực hiện các hoạt động vận chuyền. Sự sẵn có và linh hoạt của các phương tiện này đảm bảo khả năng di chuyên từ cửa hàng đến cửa hàng, từ nhà máy sản xuất đến các điểm phân phối và từ các thành phố đến các khu vực nông thôn, giúp tối ưu hóa quá trình phân phối và tiếp cận hàng hóa [28]. Tính kết nối của mạng lưới đường bộ nội địa thể hiện qua việc nó liên kết các khu vực kinh tế và địa lý khác nhau trong quốc gia. Điều này giúp cung cấp sự kết nối giữa các khu vực nông thôn và thành thị, đồng thời tạo sự gắn kết giữa nguồn cung cấp và thị trường tiêu thụ, cũng như nối liền các khu vực sản xuât và cảng biên.
10 Mạng lưới đường bộ nội địa không chỉ đòi hỏi sự tuân thủ các quy định pháp luật và quản lý chặt chẽ, mà còn có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia. Bằng việc cung cấp dịch vụ vận chuyền hiệu quả, thúc đây hoạt động thương mại, tạo cơ hội việc làm và cung cấp tiện ích cho người dân, mạng lưới vận tải đường bộ nội địa tạo điều kiện thuận lợi dé phát triển và đảm bảo sự kết nỗi mạnh mẽ giữa các khu vực trong quốc gia. Phan loại - Căn cứ vào đối tượng vận chuyền, vận tải đường bộ nội địa được chia làm 02 loại là: (i) Van tải hàng hóa Vận tải hàng hóa là một yếu tố quan trọng trong hệ thống vận tải đường bộ nội địa. Nó liên quan đến việc vận chuyên các loại hàng hóa từ các điểm xuất phát đến các điểm đích trong cùng một quốc gia.
Vận tải hàng hóa đảm bảo sự chuyên giao hiệu quả của hàng hoá từ các khu vực sản xuất, khu công nghiệp hoặc cảng biển đến các điểm tiêu thụ, các cửa hàng, nhà máy hoặc các địa điểm khác. Đây là mắt xích đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hàng hoá và đây mạnh hoạt động thương mại trong quốc gia [22]. Vận tải hàng hóa được phân loại theo loại hàng hóa [6]. Ví dụ, vận tải hàng hóa thông thường bao gồm vận chuyên các mặt hàng tiêu dùng, hàng công nghiệp và hàng nông sản.
Ngoài ra, vận tải hàng nguy hiểm đảm bảo vận chuyền an toàn của các loại hàng nguy hiểm như hóa chất, chất độc, vật liệu no và vật liệu dé cháy. Còn vận tải hàng lạnh đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá nhạy cảm với nhiệt độ như thực phẩm đông lạnh, dược phẩm và hàng hóa tươi sống. (ii) Van tải hành khách. Bên cạnh vận tải hàng hóa, vận tải hành khách là một yếu tố quan trọng khác của vận tải đường bộ nội địa.
Vận tải hành khách liên quan đên việc vận 11 chuyền người từ một điểm xuất phát đến một điểm đích trong cùng một quốc gia. Nó bao gồm cả vận tải hành khách công cộng như xe buýt lẫn vận tải hành khách cá nhân như xe ô tô, taxi hoặc các phương tiện cá nhân khác [30]. Vận tải hành khách đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các khu vực đô thị và nông thôn, cung cấp dịch vụ di chuyển tiện lợi và an toan cho người dân và du khách trong quốc gia. Phân loại vận tải đường bộ nội địa theo hai hình thức vận tải hàng hóa và vận tải hành khách cung cấp một cách tiếp cận tổng quan và hệ thống hóa trong việc nghiên cứu và quản lý hoạt động vận tải đường bộ nội địa.
Điều này giúp tăng cường hiệu quả và hiệu suất của hệ thống vận tải, đáp ứng nhu cầu kinh tế và xã hội của một quốc gia. - Căn cứ vào độ dài tuyên đường, các điểm đến có định, vận tải đường bộ được chia làm 02 loại là: () Kinh doanh vận tải theo tuyến co định Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cô định là một khía cạnh quan trọng của ngành vận tải, đặc biệt là trong bối cảnh luật pháp và quy định của Việt Nam. Điều này liên quan đến việc cung cấp dịch vụ vận chuyền hành khách thông qua các tuyến đường có định, mà lịch trình và hành trình đã được định sẵn, và được quản lý và theo dõi bởi các cơ quan có thâm quyền. Theo khoản 3, điều 3 nghị định 10/2020/NĐ-CP: Tuyến cố định là tuyến đường vận chuyển hành khách được công bố bởi cơ quan có thấm quyên, được xác định dựa trên hành trình, lịch trình, bến xe khách nơi xuất phát và bến xe khách nơi đến (điểm dau và điểm cuối đối với dịch vụ xe bust).
Theo Điều 66 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và Điều 4 của Nghị định số 10/2020/NĐ-CP, tuyến có định được xác định bằng cách chỉ định các thông tin quan trọng như hành trình, lịch trình, điểm xuất phát (điểm đầu) và 12 điểm đến (điểm cuối) của dich vụ vận tải hành khách. Điều nay giúp quy định và kiểm soát việc vận chuyên hành khách, đảm bảo tính an toàn và sự thuận tiện cho hành khách. Tuyến vận tải hành khách cô định bang xe ô tô có nhiều dang, bao gồm tuyến liên tỉnh và tuyến nội tỉnh. Tuyến liên tỉnh là những tuyến đường dài hơn 300km và phải có điểm xuất phát và kết thúc tại các bến xe loại 4 trở lên.
Điều này đảm bảo răng việc vận chuyển hành khách trên các tuyến đường xa được quản lý một cách hiệu quả và đáng tin cậy. Trong khi đó, tuyến nội tỉnh tập trung vào vận tải hành khách trong các địa phương nội tỉnh, cung cấp dịch vụ vận tải thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp trong cùng một khu vực [23]. Kinh doanh vận tải hành khách có những đặc điểm riêng đối với dịch vụ. Đầu tiên, sản phẩm dịch vụ là vô hình và không hiện hữu dưới dạng vật chat cụ thé.
Sản phẩm dich vụ nay không thé đo lường bằng các tiêu chuẩn kỹ thuật như sản phẩm vật chất. Nó tồn tại dưới hình thức trải nghiệm và tiện ích cho người dùng. Thứ hai, sản phẩm dịch vụ không thể tách rời, tức là việc sản xuất và tiêu dùng xảy ra đồng thời. Khi hành khách sử dụng dịch vụ, họ đang tận hưởng sản phẩm tại thời điểm đó.
Thứ ba, sản phẩm dịch vụ vận tải bằng taxi không có tính dự trữ. Điều này là do việc cung ứng và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời, không có sự tích trữ sản phẩm dich vụ cho tương lai [28]. Cuối cùng, chất lượng dịch vụ vận chuyền hành khách rất khó đánh giá do nó bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như đơn vị cung cấp dịch vụ, khách hàng sử dụng dịch vụ, và thời điểm cung cấp dịch vụ. Điều này tạo ra một sự phức tạp trong việc đánh giá và quản lý chất lượng dịch vụ để đảm bảo hành khách được phục vụ tốt nhất.
Những đặc điểm này tạo nên những đặc trưng riêng cho các hoạt động dịch vụ. Bên cạnh những đặc điểm cơ bản nêu trên, dịch vụ vận tải hành khách băng taxi có các đặc điêm đặc biệt khác như: Sản phâm của dịch vụ vận 13 tải hành khách là việc di chuyên của hành khách trong không gian dé đáp ứng nhu cầu của con người. Do đó, đối tượng chủ yếu của vận tải hành khách bằng taxi là con người, điều này là một đặc điểm quan trọng và là cơ sở cho việc thiết lập các quy định pháp luật để điều chỉnh lĩnh vực kinh doanh này.