phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng: Chƣơng 1: Một số lý luận chung và thực tiễn của hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đối với giao thông vận tải Chƣơng 2: Thực trạng thu hút và sử dụng ODA đối với giao thông vận tải Việt Nam giai đoạn 1993 - 2010. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA cho các dự án giao thông vận tải. 5 z CHƢƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VÀ THỰC TIỄN CỦA HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) ĐỐI VỚI GIAO THÔNG VẬN TẢI 1. Lý luận chung về nguồn vốn ODA 1.
Khái niệm và phân loại ODA a. Khái niệm ODA ODA ra đời sau chiến tranh thế giới lần thứ II, khởi nguồn từ Tổ chức tiền thân của OECD là Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (Organisation for Europian Economic Cooperation). Tổ chức này hình thành nhằm quản lý nguồn hỗ trợ của Canada và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trong khuôn khổ kế hoạch Marshall nhằm tái thiết lại châu Âu sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Năm 1961, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic Cooperation and Development) viết tắt là OECD ra đời thay thế cho Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu.
Trong khuôn khổ hợp tác phát triển các nƣớc thuộc tổ chức OECD, OECD đã tiến hành thành lập ra các Uỷ ban chuyên môn nhằm điều phối toàn bộ hoạt động của Tổ chức OECD trong đó có Uỷ ban hỗ trợ phát triển (Development Assistance Committee) viết tắt là DAC. DAC là một trong những Uỷ ban có nhiệm vụ hỗ trợ và cân đối toàn bộ nguồn hỗ trợ do các nƣớc thuộc OECD đóng góp tới các nƣớc đang phát triển, qua đó giúp các nƣớc đang phát triển không ngừng nâng cao hiệu quả đầu tƣ và phát triển kinh tế. Đồng thời Uỷ ban DAC cũng là nơi đƣa ra các chủ trƣơng chính sách cung cấp ODA để định hƣớng cho các nƣớc thuộc tổ chức OECD đặt trọng tâm vào xoá đói, giảm nghèo và nhấn mạnh sự cần thiết vào vai trò lãnh đạo của các nƣớc đang phát triển. Tuy nhiên, hoạt động hỗ trợ mà các nƣớc phát triển dành cho các nƣớc đang phát triển hoặc chậm phát triển luôn gắn chặt với hai mục tiêu cơ bản là thúc đẩy tăng trƣởng dài hạn, giảm nghèo đói ở những 6 z nƣớc đang phát triển; và tăng cƣờng lợi ích chiến lƣợc và chính trị ngắn hạn của các nƣớc tài trợ đối với các nƣớc tiếp nhận hỗ trợ.
Năm 1972, lần đầu tiên OECD đã đƣa ra khái niệm về ODA nhƣ sau: “ODA là một giao dịch chính thức đƣợc thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nƣớc đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ƣu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất là 25%”. Theo Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới (WB) có tên gọi là “Báo cáo đánh giá viện trợ khi nào có tác dụng, khi nào không và tại sao?” năm 1999 có đƣa ra khái niệm về ODA nhƣ sau: “ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức, trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ƣu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA” Theo Chƣơng trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) trong “Báo cáo tổng quan viện trợ phát triển chính thức tại Việt Nam – tháng 12 năm 2002” có đƣa ra khái niệm về ODA nhƣ sau: “Viện trợ phát triển chính thức (ODA) bao gồm tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản cho vay đối với các nƣớc đang phát triển, cụ thể là (i) do khu vực chính thức thực hiện; (ii) chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi; (iii) cung cấp với các điều khoản ƣu đãi về mặt tài chính (nếu là vốn vay thì có phần không hoàn lại ít nhất là 25%)”. Đến nay, thuật ngữ ODA đã đƣợc sử dụng khá phổ biến.
ODA đƣợc hiểu là các khoản hỗ trợ không hoàn lại hoặc cho vay ƣu đãi của các tổ chức quốc tế, chính phủ các nƣớc (thƣờng là các nƣớc phát triển) dành cho chính phủ một nƣớc (thƣờng là các nƣớc đang phát triển) nhằm phát triển kinh tế xã hội. 7 z Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 9 tháng 11 năm 2006 về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức của chính phủ Việt Nam chỉ rõ: “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nƣớc hoặc Chính phủ nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủ nƣớc ngoài, các tổ chức tài trợ song phƣơng và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ”. Nhƣ vậy, ODA phản ánh mối quan hệ giữa hai bên: bên tài trợ gồm các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nƣớc phát triển và bên nhận tài trợ là chính phủ một nƣớc (thƣờng là một nƣớc đang phát triển) với mục đích giúp đỡ nƣớc này phát triển kinh tế - xã hội. Bộ phận chính của nguồn vốn ODA là vốn vay ƣu đãi, chính phủ nƣớc nhận tài trợ (vay nợ) phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ trong tƣơng lai.
Phân loại ODA Phân loại theo tính chất: gồm 2 loại: ODA không hoàn lại và ODA hoàn lại. (i) ODA không hoàn lại: Đây là nguồn vốn ODA mà nhà tài trợ cấp cho các nƣớc nghèo không đòi hỏi phải trả lại. Cũng có một số nƣớc khác đƣợc nhận loại ODA này khi gặp phải các vấn đề nghiêm trọng nhƣ thiên tai, dịch bệnh… Đối với các nƣớc đang phát triển, nguồn vốn này thƣờng đƣợc cấp dƣới dạng các dự án hỗ trợ kỹ thuật, các chƣơng trình xã hội hoặc hỗ trợ cho công tác chuẩn bị dự án. ODA không hoàn lại thƣờng là các khoản tiền nhƣng cũng có khi là hàng hoá, ví dụ nhƣ: lƣơng thực, thuốc men hay một số đồ dùng thiết yếu.
ODA không hoàn lại thƣờng ƣu tiên và cung cấp thƣờng xuyên cho lĩnh vực giáo dục, y tế. Các nƣớc châu Âu hiện nay dành một phần khá lớn ODA không hoàn lại cho các vấn đề bảo vệ môi trƣờng, đặc biệt là bảo vệ rừng và các loài thú quý. (ii) ODA có hoàn lại: gồm 2 hình thức vay ƣu đãi và hỗn hợp. ODA vay ƣu đãi là khoản tài chính mà chính phủ nƣớc nhận phải trả cho nƣớc cho vay, chỉ có điều đây là khoản vay ƣu đãi.
Tính ƣu 8 z đãi của nó đƣợc thể hiện ở mức lãi suất thấp hơn lãi suất thƣơng mại vào thời điểm cho vay, thời gian vay kéo dài, có thể có thời gian ân hạn. ODA vay hỗn hợp bao gồm một phần là ODA không hoàn lại và một phần là ODA vốn vay ƣu đãi. Đây là loại ODA đƣợc áp dụng phổ biến trong thời gian gần đây. Phân loại theo mục đích: gồm có hỗ trợ cơ bản và hỗ trợ kỹ thuật.
(i) Hỗ trợ cơ bản: Là những nguồn lực đƣợc cung cấp để đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và môi trƣờng, đây thƣờng là những khoản cho vay ƣu đãi. (ii) Hỗ trợ kỹ thuật: Là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tƣ phát triển thể chế và nguồn nhân lực… Loại hỗ trợ này chủ yếu là hỗ trợ không hoàn lại. Phân loại theo điều kiện: ODA không ràng buộc và ODA có ràng buộc. (i) ODA không ràng buộc là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng (ii) ODA ràng buộc một phần: Nƣớc nhận viện trợ phải dành một phần ODA chi ở nƣớc viện trợ ( nhƣ mua sắm hàng hoá hay sử dụng các dịch vụ của các nƣớc cung cấp ODA), phần còn lại có thể chi ở bất cứ đâu.
Phân loại theo hình thức: gồm hỗ trợ dự án (để thực hiện các dự án cụ thể) và hỗ trợ phi dự án (hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ trả nợ, hỗ trợ chƣơng trình). (i) Hỗ trợ dự án: Đây là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay ƣu đãi. (ii) Hỗ trợ phi dự án: Là loại ODA đƣợc nhà tài trợ cung cấp trên cơ sở tự nguyện, nhận thức về các vấn đề bức xúc ở nƣớc sở tại đƣợc viện trợ nhằm tháo gỡ những khó khăn đó.
Khi đƣợc chính phủ chấp thuận thì việc viện trợ đƣợc tiến hành theo đúng thoả thuận của hai bên. Loại 9 z ODA này thƣờng đƣợc cung cấp kèm theo những đòi hỏi từ phía chính phủ nƣớc tài trợ. Đặc điểm nguồn vốn ODA ODA là các khoản hỗ trợ không hoàn lại hoặc các khoản cho vay ƣu đãi. Do vậy mà ODA có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất: ODA mang tính ưu đãi ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài.
Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm. Thông thƣờng trong ODA có thành tố hỗ trợ (cho không), đây cũng chính là điểm phân biệt giữa hỗ trợ và cho vay thƣơng mại. Thành tố cho không đƣợc xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh lãi suất hỗ trợ với mức lãi suất tín dụng thƣơng mại. Sự ƣu đãi ở đây là so sánh với tập quán thƣơng mại quốc tế.
Sự ƣu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nƣớc đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển. Thứ hai: ODA mang tính ràng buộc ODA có thể ràng buộc (hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) nƣớc nhận về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra mỗi nƣớc cung cấp hỗ trợ cũng đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nƣớc nhận. Ví dụ, Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật đƣợc thực hiện bằng đồng Yên Nhật, trả lại bằng USD.
ODA có thể ràng buộc về kinh tế hoặc về chính trị. Các nƣớc hỗ trợ nói chung vừa muốn gây ảnh hƣởng chính trị, vừa muốn thực hiện xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tƣ vấn vào nƣớc tiếp nhận hỗ trợ. Bởi hỗ trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn tại song song.