Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CHỦ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI CƠ GIỚI 1. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trong đời sống hàng ngày thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân; tài sản, danh dự, nhân phẩm của các tổ chức có thể xảy ra dưới nhiều tác động khác nhau, mà những tác động đó nằm ngoài những ràng buộc giữa hai bên hay còn có thể nói nằm ngoài hợp đồng giữa hai bên. Nó có thể là những tác động khác quan hoặc là những tác động do các hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân mang lại.
Nhằm ngăn chặn, khắc phục những thiệt hại, hậu quả xảy ra, Nhà nước đưa ra những quy định pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Theo qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được qui định tại Khoản 1, Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.” Như vậy một người gây thiệt hại cho người khác thì giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại phát sinh một quan hệ pháp luật, trong đó người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thường, còn bên gây thiệt hại thì có nghĩa vụ phải bồi thường những thiệt hại đã gây ra. Quan hệ pháp luật đó gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý, có tính cưỡng chế của nhà nước buộc người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác phải bồi thường, là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại mà giữa người gây thiệt hại với người bị thiệt hại không có quan hệ hợp đồng hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc nội dung thực hiện hợp đồng.
Căn cứ tại Điều 584 BLDS 2015 thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định, các điều kiện đó là: 8 có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây ra thiệt hại (trong đó hành vi có thể có lỗi, có thể không có lỗi). Hậu quả: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn mang đến hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại. Khi một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác thì thiệt hại đó được tính toán rõ ràng, cụ thể nếu không sẽ không thực hiện được việc bồi thường, vì thế cho dù thiệt hại là tinh thần hay vật chất thì thiệt hại đó cũng được pháp luật qui định cụ thể để bù đắp tổn thất cho người bị thiệt hại. Vì vậy, việc thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục một phần hay toàn bộ thiệt hại đã xảy ra cho người bị thiệt hại.
Chủ thể bị áp dụng: Là người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại; là cha, là mẹ người chưa thành niên gây thiệt hại, là người giám hộ, là pháp nhân của người của pháp nhân gây thiệt hại. Như vậy, có thể nói “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ thi hành hợp đồng đã ký kết”. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm phát sinh dưới tác động trực tiếp của các quy phạm pháp luật, khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại. Là loại trách nhiệm dân sự phát sinh bên ngoài và không phụ thuộc vào hợp đồng, có các đặc điểm đặc trưng như sau: Thứ nhất, trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm dân sự, chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự và phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định.
Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh và được quy định trong BLDS và các văn bản hướng dẫn thi hành, không thể phát sinh trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên như BTTH trong hợp đồng. Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định do pháp luật quy định. Các điều kiện đó là: phải có thiệt hại xảy ra trên thực tế: Thiệt hại đó gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn 9 thất tinh thần; có hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động trái với các quy định của pháp luật, xâm phạm tới các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của chủ thể khác được pháp luật bảo vệ; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra: Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại; phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại, ngoài ra pháp luật quy định trường hợp người gây thiệt hại không có lỗi vẫn phải bồi thường chịu trách nhiệm bồi thường. Thứ ba, ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề… Thứ tư, đặc điểm để phân biệt giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với các trách nhiệm bồi thường thiệt hại khác là giữa người bị thiệt hại và người gây ra thiệt hại không có việc giao kết hợp đồng hoặc có hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi thực hiện hợp đồng.
Ngoài ra mức bồi thường cũng được xem xét bởi lẽ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về nguyên tắc là người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Thiệt hại chỉ có thể được giảm trong một trường hợp đặc biệt đó là người gây thiệt hại có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới 1.
Khái niệm phương tiện giao thông vận tải cơ giới Nói đến chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ phương tiện giao thông vận tải cơ giới, trước tiên phải làm rõ khái niệm phương tiện giao thông vận tải cơ giới. Bởi vì khi xác định được công cụ, phương tiện gây ra thiệt hại thì từ đó 10 mới có cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về ai, người nào, là chủ sở hữu hay người chiếm hữu, sử dụng phương tiện giao thông vận tải cơ giới. Đối với khái niệm phương tiện vận tải cơ giới, tại khoản 1 điều 601 Bộ luật Dân sự 2015 chỉ mới đề cập phương tiện vận tải cơ giới là một trong số các nguồn nguy hiểm cao độ và cho đến nay vẫn chưa có văn bản nào đưa ra nội dung hoàn chỉnh về khái niệm “phương tiện giao thông vận tải cơ giới”. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hình dung được phương tiện giao thông vận tải cơ giới bao gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường sắt, phương tiện giao thông cơ giới đường thủy hoặc phương tiện giao thông cơ giới đường hàng không.
Nhưng liệu có phải tất cả các phương tiện giao thông vận tải cơ giới đều được coi là nguồn nguy hiểm cao độ? Pháp luật nước ta vẫn chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Tuy nhiên để xác định những phương tiện giao thông cơ giới nào là nguồn nguy hiểm cao độ cần dựa trên các quy định cụ thể tại các văn bản pháp luật có liên quan khác như Luật Giao thông đường bộ 2008. Luật Giao thông đường bộ năm 2008 tại Khoản 17 Điều 3 quy định phương tiện giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ. Theo đó tại Khoản 18 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và điểm b, mục 1, phần III Nghị quyết 03/2006 quy định: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ bao gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự, kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật.
Nhìn chung các loại xe này đều được gắn động cơ, chịu sự điều khiển của con người và vận hành bằng nguồn năng lượng chứ không phải dùng sức người. Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa chung về phương tiện giao thông vận tải cơ giới chính là các loại phương tiện hoạt động bằng động cơ, có tốc độ, có khả năng vận chuyển được khối lượng lớn con người, tài sản, hàng hóa,… và chịu sự điều khiển của con người.