Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại Trong đời sống xã hội, theo quy định của pháp luật mọi công dân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự cũng như các cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình hoặc hành vi của tổ chức mình. Do đó cá nhân, tổ chức nào gây thiệt hại cho tổ chức hoặc cá nhân khác đều có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho cá nhân đó. Vấn đề này đã được các nhà làm luật coi là một nguyên tắc và cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật.
Xét về nguồn gốc lịch sử, chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại nói chung ra đời từ rất sớm. Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, mỗi quốc gia đều hình thành những quy định chung về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại, bên cạnh đó còn có các quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng thương mại trong những trường hợp cụ thể bởi sự đa dạng về chủ thể gây thiệt hại, đối tượng và hoàn cảnh bị thiệt hại.Tuy nhiên trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại nói riêng đã và đang gây nhiều tranh cãi, về căn cứ phát sinh, về mức bồi thường.Hơn nữa, các quy định của pháp luật về vấn đề này chủ yếu dừng lại ở các quy định mang tính chất định tính mà không định lượng nên gây ra nhiều khó khăn cho quá trình áp dụng của các doanh nghiệp. Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh được những tranh chấp xảy ra thì mọi các nhân, tổ chức nói chung và các cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế nói riêng phải nắm vững các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại, mà trước hết là khái quát chung: Thế nào là bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại? 1. Hợp đồng thương mại Khi xã hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức trao đổi hàng hóa thì hợp đồng đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sản.
Hợp đồng là sự khái quát một cách toàn diện các hình thức giao lưu dân sự phong phú của con người, là một trong những phương thức hữu hiệu để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình 2. Pháp luật về hợp đồng ở nước ta có quá trình phát triển qua từng giai đoạn, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội. Khái niệm về hợp đồng cần phải được xem xét ở nhiều phương diện khác nhau. Theo phương diện khách quan thì hợp đồng là do các quy phạm pháp luật của Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau.
Theo phương diện chủ quan, 2 Chế định hợp đồng – Wikipedia.org 11 Luan van hợp đồng là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định3. Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. Như vậy các quy định về hợp đồng được áp dụng cho các hợp đồng ở các lĩnh vực khác nhau như dân sự, lao động, thương mại và đầu tư kinh doanh.Cùng với sự phát triển chung của xã hội, các thành phần kinh tế ngày một đa dạng và phong phú làm cho các quan hệ kinh tế cũng thay đổi theo. Hợp đồng thương mại trở thành phương tiện phục vụ cho mục đích kinh doanh trên nguyên tắc các chủ thể tự nguyện, bình đẳng với nhau.
Một cách khái quát, hợp đồng thương mại chính là hình thức pháp lý chủ yếu của các quan hệ kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự. Do đó, hợp đồng thương mại đều là những giao dịch có bản chất dân sự, thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và thỏa thuận của các bên; đều hướng tới lợi ích của mỗi bên và lợi ích chung khi tham gia giao kết hợp đồng; đều có những vấn đề cơ bản như: giao kết hợp đồng, nguyên tắc và các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu… Tuy nhiên, do xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu của hoạt động thương mại nên hợp đồng thương mại có những vấn đề được quy định có tính chất là sự phát triển tiếp tục những quy định của dân luật truyền thống như: chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên, chế tài và giải quyết tranh chấp hợp đồng… Khoa học pháp lý và pháp luật thực định tại Việt Nam sử dụng nhiều khái niệm pháp lý để chỉ hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh như: hợp đồng kinh doanh, hợp đồng trong hoạt động kinh doanh, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại… Tại Điều 1 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 đã đưa ra khái niệm về hợp đồng kinh tế như sau: “Hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng nghiên cứu khoa học – kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”. Với khái niệm này hợp đồng kinh tế đặc trưng với ba tiêu chí cơ bản là chủ thể, mục đích, hình thức hợp đồng nên chưa bao quát hết được các quan hệ hợp đồng trong hoạt động thương mại.
Hiện nay, Luật Thương mại năm 2005 tuy không đưa ra định nghĩa về hợp đồng thương mại nhưng theo Điều 1: Phạm vi điều chỉnh và Điều 2: Đối tượng điều chỉnh của Bộ Luật này có thể hiểu “hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh với nhau và với các bên có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại trên lãnh thổ Việt Nam; hoạt 3 Khái quát về hoạt động thương mại – Luật Dương Gia 2015 12 Luan van động thương mại ngoài lãnh thổ Việt Nam nếu các bên thỏa thuận áp dụng luật này hoặc luật nước ngoài, Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng luật này”. Các hoạt động thương mại ở đây được xác định theo Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 “là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Theo Điều 2 Luật Thương mại 2005, chủ thể trong hợp đồng thương mại bao gồm thương nhân hoạt động thương mại; các tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại; các cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh. Cũng theo quy định tại Luật Thương mại 2005, hợp đồng thương mại được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
Trường hợp pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó. Các chế tài trong quan hệ hợp đồng thương mại Nền kinh tế thị trường ở nước ta dựa trên sự thiết lập nền tảng pháp lí quyền tự do kinh doanh trong quan hệ thương mại và phương thức hình thành chủ yếu là thông qua các quan hệ hợp đồng. Các quan hệ hợp đồng trong thương mại cũng vì thế mà trở nên đa dạng và phức tạp hơn. Hiện tượng vi phạm hợp đồng cũng diễn ra nhiều hơn.
Để giúp đảm bảo cam kết giữa các bên được thực hiện, hoặc đền bù lại những tổn thất đã gây ra cho bên bị thiệt hại do hành vi của bên vi phạm hợp đồng pháp luật về chế tài trong thương mại ra đời và ngày càng hoàn thiện hơn. Khái niệm Chế tài trong hoạt động thương mại là sự gánh chịu hậu quả bất lợi của bên vi phạm hợp đồng trong thương mại và được hiểu theo nhiều phạm vi khác nhau. Chế tài là một đặc trưng cơ bản của pháp luật. Nó là một phương tiện để thi hành quyền hoặc ngăn cản việc vi phạm quyền hay khắc phục hậu quả của sự vi phạm quyền, cụ thể: Theo nghĩa rộng, chế tài trong thương mại được hiểu là hình thức chế tài được cơ quan nhà nước hoặc bên có quyền lợi bị vi phạm áp dụng đối với mọi tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong thương mại.
Khi có hành vi vi phạm pháp luật trong thương mại thì cơ quan nhà nước hoặc bên có quyền lợi bị vi phạm sẽ có quyền áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể vi phạm. Phân tích các đặc điểm của chế tài thương mại theo cách hiểu này thì phạm vi của nó là rất rộng. Các đặc trưng cơ bản của chế tài theo cách hiểu này bao gồm: Về phạm vi áp dụng: theo tinh thần chung của Luật Thương mại 2005, mọi hành vi vi phạm pháp luật thương mại đều bị phát hiện một cách kịp thời và xử lý nghiêm minh để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên tham gia hoạt động thương mại. Theo đó tất cả các hành vi vi phạm pháp luật đều thuộc phạm vi áp dụng của chế tài.
Các 13 Luan van hành vi vi phạm pháp luật thương mại không chỉ bao gồm những hành vi vi phạm chế độ quản lí nhà nước trong lĩnh vực thương mại, xâm phạm trật tự quản lí thương mại của nhà nước mà còn bao gồm các hành vi vi phạm xảy ra trong quá trình các bên ký kết và thực hiện hợp đồng. Về chủ thể có quyền ra quyết định áp dụng chế tài: theo từng hành vi vi phạm mà chủ thể áp dụng chế tài trong thương mại có thể là cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: cơ quan quản lí thị trường, Công an kinh tế, Tòa án.; hay chính bên bị vi phạm quyền lợi trong hợp đồng giữa các chủ thể.