Chương 1. Những vấn dé lý luận về thẩm quyển giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại của Tòa án. Thâm quyền giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại của Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự hiện hành. Thực tiễn thực hiện pháp luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về kinh đoanh, thương mại của Tòa án và kiến nghị.
NHUNG VAN DE LY LUAN VE THAM QUYEN GIAI QUYET CAC TRANH CHAP KINH DOANH, THUONG MAI CUA TOA AN 1. Khái niệm thim quyền giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại của Tòa án Tham quyển của Tòa án được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức TAND năm 2014, Bộ luật TTHS, Bộ luật TTDS, Luật tố tụng hành chính và các văn bản pháp luật khác. Qua đó, nội hàm của khái niệm thâm quyển của Tòa án được hiểu với những cấp độ và nội dung khác nhau. Cụ thé: Thẩm quyển được hiểu là quyên chính thức được xem xét đề kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề.
Thầm quyền giải quyết các vụ việc dan sự của TAND là quyên thụ lý, xem xét và ban hành các quyết định khi giải quyết vụ việc dan sự theo thủ tục TTDS. Theo quy định của BLTTDS năm 2015, để xác định đúng thẩm quyển của Tòa án khi thụ lý giải quyết vụ việc dân sự thì Tòa án và đương sự phải xem xét trên các phương diện: thâm quyển của Tòa án theo vụ việc, thẩm quyền của Tòa án theo cấp quan lý hành chính, lãnh thé và thâm quyên của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu câu. Việc xác định thâm quyền giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định thâm quyền giữa các Tòa án với các cơ quan Nhà nước khác. Đồng thời, đây cũng là căn cứ dé Tòa án áp dụng thủ tục giải quyết vụ án dân sự hay thủ tục giải quyết vụ việc dân sự dé áp đụng giải quyết.
Phân định thâm quyền góp phan làm cho Toà án giải quyết đúng din, có hiệu qua các vụ việc dân sự; giảm chồng chéo khu thực hiện nhiệm vu; giúp các bên đương sự lựa chọn chính xác Tòa án có chức năng, thẩm quyền bảo vệ quyển và lợi ich hợp pháp của minh, tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí. Trong xã hội hiện đại và văn minh như hiện nay, mâu thuẫn vẫn luôn tồn tại như một tất yếu tự nhiên trên mọi lĩnh vực của xã hội, tạo nên sự phát triển của xã hội. Trong khi đó, tranh chấp là những xung đột thường phát sinh từ những mâu thuẫn và từ những lợi ích riêng. Bản chất của tranh chấp là có mâu thuẫn phát sinh khi tham gia quan hệ dan sự và biểu hiện của nó là một bên trong mối quan hệ đó cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nhưng không được bên còn lại khắc phục khi có yêu cầu hoặc sự khắc phục đó không thỏa đáng.
Trong khoa học pháp lý ở Việt Nam tổn tại một số khái niệm như: “Tranh chấp kinh tế, Tranh chấp kinh doanh, Tranh chấp thương mại, Tranh chấp kinh doanh, thương mại”. Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt, “7ranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có mâu thudn, bat đồng thường là trong vấn đề quyền lực giữa hai bén.”? Khái niệm “tranh chấp thương mại” lần đầu tiên được dé cập trong LTM năm 19973. Theo Điều 238 LTM 1997 có quy định: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”. Có thể thấy, nội hàm của khái niệm “hoạt động thương mại” theo quy định của LTM 1997 rất hẹp so với quan niệm phổ biến của các nước trên thế giới về thương mại.
Trên thực tế, trong khi các nhà làm luật xây đựng về thâm quyển của Tòa án trong BLTTDS 2004, đã có rất nhiều quan điểm được đưa ra xung quanh nội hàm của hai thuật ngữ “tranh chấp thương mại” và “tranh chấp kinh doanh”. Có luồng quan điểm cho rằng tranh chấp thương mại rộng hơn tranh chấp kinh doanh và quan điểm này phù hợp với pháp luật quốc tế; trong khi đó lại có ý kiến cho rằng tranh chấp thương mại chỉ là một đạng của tranh chấp kinh đoanh, nó có quan hệ chắc chẽ và phát sinh từ hoạt động kinh doanh. Chính vì có sự bất đồng quan điểm như vậy nên khi BLTTDS 2004 ra đời đã sử dụng ghép hai thuật ngữ “Tranh chấp kinh doanh, thương mại”. BLTTDS 2015 không định nghĩa khái niệm thế nào là tranh chấp về KDTM mà dùng cách liệt kê ra những tranh chấp về KDTM thuộc thâm quyển giải quyết của Tòa án: “1.
Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau déu có mục dich lợi nhuận. Tranh chấp về quyên sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục dich lợi nhuận. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dich về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty. 2 Từ điển tiéng Việt, Nha xuat ban Da Nang, nam 2003, Hoang Phé chu bién, trang 1024 3 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế nàm 1994 và Nehi định số 116/1994/NĐ-CP chủ yêu liệt kê các tranh chấp được gọi là các tranh chấp kinh tế như tranh chấp về hợp đồng kinh tê, tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty, thành viên công ty với nhau hoặc tranh chấp liên quan đến mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản by trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cồ phan, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tach, ban giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức của công ty. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thâm quyên giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật. ”* Khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 định nghĩa: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tu, sản xuất đến tiêu thu sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm muc dich tìm kiếm lợi nhuận. ` ; Khoản 1 Điều 3 LTM 2005 định nghĩa: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua ban hàng hóa, cung ứng dich vu, đầu tư, xúc tiễn thương mại và các hoạt động nhằm muc dich sinh lợi khác.
” Từ việc tiếp cận trên, ta vừa có thể hiểu hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại có nhiều nội hàm trùng nhau như về đầu tư, về cung ứng dịch vụ, về tiêu thụ sản phẩm, về mục đích sinh lời. và vừa có thể hiểu khái niệm tranh chấp KDTM là những bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột giữa các chủ thể khi tham gia quan hệ kinh doanh và có phát sinh trong hoạt động thực hiện liên tục một, một SỐ, hoặc toàn bộ quá trình đầu tư như quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, xúc tiến thương mại, cung ứng các dịch vụ trên thị trường. Qua việc nhận định và phân tích đánh giá những nội dung nêu trên, có thê hiểu: Tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, xung đột hay bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thé khi tham gia quá trình thực hiện các hoạt động KDTM có liên quan đến các nghĩa vụ pháp lý của mình. Khi xây ra tranh chấp, tất yếu con người sẽ phát sinh mong muốn cũng như nhu cầu giải quyết tranh chấp dé bảo vệ quyên lợi chính đáng của mình.
Giải quyết tranh chấp về KDTM có thể hiểu là việc các bên thông qua cách thức hoặc phương pháp phù hợp mà pháp luật cho phép thực hiện dé loại bỏ những mâu thuẫn, bất đồng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể trong mối quan hệ đó. Các bên trong * Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hà Nội, Điều 30. 10 quan hệ KDTM có thể tự giải quyết với nhau hoặc thông qua bên thứ ba có thẩm quyền. Thực tiễn hiện nay có bốn phương thức giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp về KDTM nói riêng đó là: thương lượng, hòa giải, thông qua Trọng tài và giải quyết tại TAND.
Quả là một sự cần thiết khi mà dựa vào chức năng của TAND theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức TAND. Theo Điều 102 Hiến pháp năm 2013 thi: “Téa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Viét Nam, thực hiện quyền tr pháp”. Theo khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức TAND năm 2014 thì: “Toa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liệt Nam xét xử các vụ án hình sự, dan sụ, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật,. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức TAND, hiện nay ở Việt Nam có các loại thủ tục Tế tụng như: Tổ tụng dân sự, Tế tụng hình sự, Tổ tụng hành chính và thủ tục phá sản.
Những loại việc được giải quyết tại tòa án theo thủ tục TTDS được gọi là vụ việc dân sự. Theo điều 1 BLTTDS 2015 quy định: “Bộ luật Tổ tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong Tố tụng dân sự, trình tự, thủ tục khởi kiện để tòa án nhân dân (sau đây gọi là tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dan sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tuc yêu cẩu dé tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dan sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vu an dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân su) tai toa an; thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dan sự của tòa dn nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài; thi hành án dan sự, nhiệm vụ, quyên hạn và trách nhiệm của cơ quan tiễn hành Tổ tung, người tiễn hành TỔ tụng; quyên và nghĩa vụ của người tham gia 1!