Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm an toàn thực phẩm Ngay từ lúc chào đời con người đã cần đến thực phẩm để duy trì sự sống. Thực phẩm là một trong những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại của con người.
Tuy nhiên, vì những mục đích khác nhau, các nhà sản xuất và kinh doanh thực phẩm vẫn sử dụng những biện pháp bảo quản, kích thích tăng trưởng không hợp lý làm thực phẩm trở nên không an toàn. Với thực trạng nhu cầu sử dụng thực phẩm ngày càng cao của con người thì vấn đề đảm bảo ATVSTP càng trở nên báo động hơn bao giờ hết. Thực phẩm là tác nhân chính dẫn đến ngộ độc thực phẩm và các căn bệnh đặc biệt nguy hiểm từ tiêu chảy cấp đến ung thư. Việt Nam cũng là một trong những nước có số lượng người mắc bệnh ung thư nhiều nhất thế giới và nguyên nhân chính là thực phẩm ăn hàng ngày của con người.
Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm [37]. Mỗi loại thực phẩm đều có quy định riêng về ngưỡng an toàn và khi thực phẩm chứa những yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe con người thì gọi là thực phẩm không an toàn. Sử dụng các loại thực phẩm không an toàn, người tiêu dùng đã phải trả giá quá đắt bằng chính sức khoẻ, thậm chí cả tính mạng của mình do bị ngộ độc thực phẩm và mầm mống gây ra căn bệnh ung thư quái ác đang ngày một tích tụ và chờ bộc phát.
Nhưng có không ít người tiêu dùng không quan tâm đến vấn đề ATVSTP khi mua các thực phẩm thiết yếu tiêu dùng hàng ngày (như rau, cá, thịt…. Trang 7 Luan van Các hóa chất độc hại như thuốc bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu, trừ bệnh và thuốc trừ cỏ dại…), thuốc kích thích tăng trưởng, kim loại nặng, các vi sinh vật gây bệnh có trong các loại rau quả hoặc các chất kháng sinh, chất tăng trọng có trong thịt, cá sẽ tích lũy dần trong các mô mỡ, tủy sống…của con người, là tiền đề để phát sinh các loại bệnh tật như ung thư, loãng xương, suy giảm trí nhớ và thoái hóa xương khớp. Khi bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc thì thực phẩm lại là nguồn truyền bệnh nguy hiểm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng con người và sự phát triển của xã hội. Ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm gây ra không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và cuộc sống của mỗi người, mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng chi phí cho công tác chăm sóc sức khoẻ.
Theo Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm số 12/2003/PL- UBTVQH11 ngày 26/7/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, VSATTP được hiểu là các điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người [51]. VSATTP hiểu theo nghĩa hẹp là một môn khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra. VSATTP cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trong khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe. Hiểu theo nghĩa rộng, VSATTP là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng.
Vì vậy, VSATTP là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng. Trang 8 Luan van Tuy nhiên để phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế sau khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào 01/01/2007, khái niệm này đã được đơn giản hóa, ngắn gọn và phù hợp hơn, được thể hiện trong Luật An toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011, theo đó ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người. Từ đây, có thể hiểu theo nghĩa hẹp đó là việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra. ATTP cũng bao gồm các quy trình, quy định áp dụng trong từng khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ sức khỏe có tiềm năng nghiêm trọng.
Hiểu theo nghĩa rộng, đảm bảo ATTP là toàn bộ những vấn đề cần xử lý liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh đối với thực phẩm nhằm đảm bảo cho sức khỏe của người tiêu dùng. Đây là vấn đề có nguy cơ rất lớn mà rất nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt. Vấn đề ATTP đang nóng lên từng ngày và được dư luận đặc biệt quan tâm. Tình trạng mất an toàn thực phẩm trở thành vấn đề lớn, gây bức xúc, lo lắng cho toàn xã hội.
Tình trạng sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm về vệ sinh thú y, không rõ nguồn gốc xuất xứ; vi phạm về chất lượng, hết hạn sử dụng, tình trạng hóa chất sử dụng trong chế biến thực phẩm, chăn nuôi hiện chưa được kiểm soát chặt chẽ và gần như thả nổi trên thị trường. vẫn diễn biến phức tạp, nếu không được kiểm soát chặt chẽ của các ngành chức năng và các địa phương thì sẽ có nguy cơ đưa vào tiêu thụ tại các chợ truyền thống, vùng sâu, vùng xa. Theo báo cáo của 6 đoàn liên ngành Trung ương tại 12 tỉnh, thành phố và 42/63 địa phương về an toàn thực phẩm Tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 2017, với hơn 40 nghìn cơ sở được kiểm tra, kết quả có hơn 5.600 cơ sở có vi phạm, trong đó các đoàn đã tiến hành cảnh cáo 679 cơ sở, phạt tiền 2.311 cơ sở vi phạm với số tiền hơn 8 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động Trang 9 Luan van của 22 cơ sở, đình chỉ lưu hành 41 sản phẩm. Đồng thời tiến hành tiêu hủy 414 sản phẩm gồm các loại thực phẩm không đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm (thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ, hết hạn sử dụng.
Khái niệm pháp luật về an toàn thực phẩm Đảm bảo ATTP luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm vì xuất phát từ tầm quan trọng của nó; bảo đảm ATTP trước hết là chăm lo sức khỏe của nhân dân, phát triển kinh tế, an sinh xã hội và phục vụ cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Đảng và Nhà nước ta thường xuyên chỉ đạo và đưa ra nhiều giải pháp nhằm không ngừng hoàn thiện pháp luật về ATTP, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về ATTP. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật về ATTP đã được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ATTP. Các cấp, các ngành đã vào cuộc và tạo được sự chuyển biến tích cực đã được ghi nhận ở nhiều địa phương, đơn vị, đặc biệt ở những thành phố lớn.
Tuy nhiên, nhìn về tổng thể, công tác bảo đảm ATTP vẫn là vấn đề thách thức to lớn ở nước ta. Ngộ độc thực phẩm và các mối nguy đe dọa mất an toàn thực phẩm tiếp tục là những vấn đề quan tâm hàng đầu đối với sức khỏe cộng đồng, an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế. Các giải pháp giải quyết vấn đề này đang được đặt ra rất cấp bách, nhất là việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về ATTP. Do vậy cần thiết phải có các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, tạo lập trật tự, ổn định xã hội.
Pháp luật về an toàn thực phẩm là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. Pháp luật về ATTP ở Việt Nam, là một bộ phận trong hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta, bao gồm các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa Trang 10 Luan van nhận, tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ đối với ATTP; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về ATTP; thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP; trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP [37]. Như vậy, pháp luật an toàn thực phẩm là toàn bộ các văn bản luật và dưới luật, các thông tư, nghị định có liên quan điều chỉnh những vấn đề xã hội phát sinh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 là văn bản luật đầu tiên quy định toàn diện các vấn đề về vệ sinh, an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm, phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và truyền bệnh qua thực phẩm.
Trên cơ sở đó, Chính phủ quy định chi tiết cách thức kiểm tra, xử lý các vi phạm trong lĩnh vực thực phẩm. Qua 06 năm thực hiện cho thấy, Pháp lệnh này đã thật sự là một công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý công tác VSATTP. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, Pháp lệnh VSATTP tồn tại một số bất cập cần phải được nghiên cứu sửa đổi, hoàn chỉnh như: cùng một vấn đề nhưng quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh (134 văn bản của các ngành, các cấp) nên có sự chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp, có vấn đề nảy sinh nhưng chưa có văn bản quy định điều chỉnh; việc phân công trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương và các Bộ, ngành liên quan chưa được rõ ràng (đặc biệt là đối với việc quản lý thực phẩm tươi sống) nên dẫn đến những khó khăn trong quá trình triển khai, phối hợp thực hiện, cũng như đùn đẩy trách nhiệm khi sự việc xảy ra.