Tổng quan nghiên cứu

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các bệnh truyền qua thực phẩm không an toàn là nguyên nhân gây ra gần 50% các trường hợp tử vong và tổn hại sức khỏe trên toàn cầu. Tại Việt Nam, mỗi năm trung bình ghi nhận từ 250 đến 500 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 7.000 nạn nhân và hơn 100 trường hợp tử vong. Riêng năm 2020, tỉnh Đắk Lắk ghi nhận 10 vụ ngộ độc thực phẩm với 256 người mắc và 6 trường hợp tử vong. Trong bối cảnh đó, huyện Krông Bông với diện tích tự nhiên 1.257,49 km2, quy mô dân số hơn 90.000 người và mật độ 71,13 người/km2 đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc thiết lập trật tự vệ sinh an toàn thực phẩm. Năm 2020, toàn huyện đã xảy ra 1 vụ ngộ độc nghiêm trọng khiến 43 người mắc và 11 người phải nhập viện điều trị.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công của tác giả Phạm Thị Lệ Thủy, do Tiến sĩ Trương Thị Thu Hiền hướng dẫn khoa học tại Học viện Hành chính Quốc gia, tập trung giải quyết vấn đề cấp bách: Đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 2018 - 2020. Mục tiêu nghiên cứu nhằm làm rõ nguyên nhân của các tồn tại, đánh giá năng lực bộ máy và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đến năm 2025 và tầm nhìn 2030.

Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian 1 thị trấn và 13 xã của huyện Krông Bông trong khung thời gian 3 năm (2018 - 2020). Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đem lại giá trị định lượng quan trọng, giúp chuẩn hóa quy trình điều phối giữa 3 cơ quan chuyên môn cấp huyện, tối ưu hóa hiệu quả làm việc của 38 cán bộ chuyên trách và kiêm nhiệm, đồng thời hướng tới kiểm soát chặt chẽ 1.080 cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm trên toàn địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý công hiện đại và lý thuyết tiếp cận hệ thống trong quản trị hành chính nhà nước. Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm được tiếp cận dưới góc độ là một hệ thống đa ngành, vận hành dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa 3 cơ quan trụ cột: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kinh tế và Hạ tầng (đại diện cho ngành Công thương) theo quy định của Luật An toàn thực phẩm năm 2010.

Đề tài tích hợp mô hình kiểm soát rủi ro theo chuỗi cung ứng thực phẩm từ trang trại đến bàn ăn, bảo đảm tuân thủ 6 nguyên tắc quản lý cốt lõi theo luật định. Bốn khái niệm trung tâm được chuẩn hóa trong luận văn gồm:

  1. Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm: Sự tác động có tổ chức và mang tính quyền lực của các cơ quan nhà nước bằng hệ thống pháp luật, chính sách nhằm điều chỉnh hành vi của tổ chức, cá nhân trong toàn bộ chuỗi thực phẩm.
  2. Chuỗi cung cấp thực phẩm: Toàn bộ quá trình từ sản xuất ban đầu, thu hoạch, sơ chế, chế biến, bao gói, vận chuyển, lưu kho đến kinh doanh và tiêu dùng.
  3. Phân tích nguy cơ an toàn thực phẩm: Quy trình khoa học gồm 3 thành tố: đánh giá nguy cơ, quản lý nguy cơ và truyền thông nguy cơ về các tác nhân sinh học, hóa học, vật lý.
  4. Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật: Hệ thống các tiêu chuẩn tiên tiến như GAP (Thực hành nông nghiệp tốt), GMP (Thực hành sản xuất tốt), HACCP (Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn) và ISO 22000.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được kết hợp đồng bộ giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Tác giả thu thập số liệu thống kê hành chính giai đoạn 2018 - 2020 từ Ủy ban nhân dân huyện Krông Bông, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Đắk Lắk và 14 Ủy ban nhân dân xã, thị trấn.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi khảo sát với tổng quy mô mẫu là 370 đối tượng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên có chủ đích được thực hiện trên 3 nhóm đối tượng:

  • Nhóm 1: 38 cán bộ, công chức làm công tác an toàn thực phẩm (gồm 2 cán bộ Phòng Y tế, 2 cán bộ Phòng Kinh tế và Hạ tầng, 2 cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 4 cán bộ Trung tâm Y tế huyện và 28 cán bộ thuộc Trạm Y tế và Ủy ban nhân dân cấp xã).
  • Nhóm 2: 32 chủ cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm đại diện cho các ngành hàng trên địa bàn.
  • Nhóm 3: 300 người tiêu dùng sinh sống tại các xã và thị trấn của huyện.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phương pháp so sánh và phân tích hệ thống là nhằm lượng hóa chính xác mức độ hiểu biết, thái độ tuân thủ và đánh giá khách quan về hiệu lực thực thi công vụ tại một huyện miền núi Tây Nguyên có địa hình phức tạp và đa dạng về văn hóa tiêu dùng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra 3 phát hiện thực tiễn quan trọng về bức tranh quản lý an toàn thực phẩm tại huyện Krông Bông:

Thứ nhất, tính tự cung tự cấp của thị trường thực phẩm rất cao nhưng kiểm soát chất lượng đầu vào còn lỏng lẻo. Toàn huyện tiêu thụ khoảng 15.200 tấn thịt mỗi năm, trong đó 89% được cung ứng từ nguồn chăn nuôi tại chỗ; tiêu thụ 9.872 tấn rau củ quả các loại với 95% sản xuất tại địa phương; nguồn trái cây nội địa đáp ứng tới 91% nhu cầu. Tuy nhiên, toàn huyện có hơn 100 ha cây ăn quả và khoảng 12 ha chuyên canh rau màu nhưng chỉ có duy nhất mô hình trồng dứa tại xã Cư Đrăm đạt chứng nhận VietGAP.

Thứ hai, mạng lưới phân phối mang tính phân tán cao và tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn vệ sinh. Huyện hiện có 1.080 cơ sở thực phẩm (gồm 83 cơ sở sản xuất, 463 cơ sở kinh doanh, 440 cơ sở dịch vụ ăn uống và 94 cơ sở thức ăn đường phố). Thực phẩm chủ yếu lưu thông qua 1 trung tâm thương mại, 2 siêu thị và 10 chợ truyền thống với khoảng 500 tiểu thương. Hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ tại chợ và khâu vận chuyển thủ công chưa được kiểm soát triệt để.

Thứ ba, nguồn nhân lực quản lý còn mỏng và thiếu hụt chuyên môn kỹ thuật sâu. Tổng số 38 cán bộ phụ trách từ huyện đến xã đều hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm; trang thiết bị kiểm nghiệm nhanh tại chỗ còn thiếu thốn nghiêm trọng. Tình hình ngộ độc diễn biến phức tạp: năm 2019 xảy ra 1 vụ với 5 ca nhập viện; đến năm 2020 xảy ra 1 vụ với 43 người mắc và 11 người nhập viện, tăng hơn 700% về số lượng nạn nhân.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên là do sự phối hợp liên ngành giữa y tế, nông nghiệp và công thương còn mang tính hình thức, chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu dùng chung để truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Hoạt động thanh tra, kiểm tra chủ yếu tập trung vào các đợt cao điểm như Tết Nguyên đán hay Tháng hành động vì an toàn thực phẩm, trong khi việc kiểm tra đột xuất tại các vùng sâu vùng xa còn hạn chế.

Khi đối chiếu với kinh nghiệm từ các địa phương khác như mô hình quản lý bếp ăn tập thể tại thị xã Kỳ Anh (Hà Tĩnh) hay mô hình chợ văn minh an toàn thực phẩm với kinh phí 2,5 tỷ đồng tại huyện Lục Nam (Bắc Giang), huyện Krông Bông bộc lộ điểm yếu lớn về nguồn lực đầu tư hạ tầng thương mại và kiểm soát dịch vụ ăn uống lưu động như bài học tại huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi).

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cơ cấu nguồn cung thực phẩm (thể hiện rõ 89% thịt và 95% rau củ từ nguồn nội bộ) kết hợp với bảng phân tích trình độ chuyên môn của 38 công chức phụ trách. Điều này khẳng định sự cần thiết phải chuyển đổi mô hình từ quản lý thụ động, xử lý vụ việc sang quản trị rủi ro chủ động trên toàn địa bàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại huyện Krông Bông giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030:

Thứ nhất, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ chuyên trách. Ủy ban nhân dân huyện Krông Bông cần chủ trì phân công rõ thẩm quyền quản lý, chấm dứt tình trạng chồng chéo giữa Phòng Y tế, Phòng Nông nghiệp và Phòng Kinh tế - Hạ tầng. Mục tiêu giai đoạn 2023 - 2025: tuyển dụng bổ sung ít nhất 2 cán bộ có chuyên môn sâu về an toàn thực phẩm và công nghệ thực phẩm; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản trị và kỹ năng kiểm tra cho 100% trong số 28 cán bộ trạm y tế và công chức phụ trách văn hóa - xã hội cấp xã.

Thứ hai, đổi mới nội dung và đa dạng hóa hình thức truyền thông giáo dục pháp luật. Phòng Y tế phối hợp với Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thanh huyện triển khai các chương trình phổ biến kiến thức bằng cả tiếng phổ thông và tiếng đồng bào dân tộc thiểu số tại 14 xã, thị trấn. Mục tiêu đến năm 2025 đạt tỷ lệ trên 85% chủ cơ sở sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng nắm vững các quy định của Luật An toàn thực phẩm.

Thứ ba, tăng cường thanh tra, kiểm tra liên ngành và trang bị phương tiện kỹ thuật. Ban chỉ đạo liên ngành an toàn thực phẩm huyện cần tăng tần suất thanh tra định kỳ và đột xuất tại 10 chợ truyền thống và 440 cơ sở dịch vụ ăn uống; bố trí nguồn kinh phí khoảng 500 triệu đồng từ ngân sách địa phương để trang bị bộ test kit xét nghiệm nhanh tồn dư hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật cho các đoàn kiểm tra tuyến huyện và xã.

Thứ tư, thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị nông sản sạch và tổ tự quản cộng đồng. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với 9 hợp tác xã và 36 trang trại trên địa bàn mở rộng diện tích sản xuất đạt chuẩn VietGAP vượt trên quy mô 100 ha cây ăn quả và 12 ha rau màu hiện có. Đồng thời, thành lập các tổ tự quản an toàn thực phẩm tại từng thôn buôn nhằm giám sát chặt chẽ hoạt động giết mổ và dịch vụ nấu ăn lưu động.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện và cấp xã: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Y tế, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế - Hạ tầng tại các huyện miền núi có thể sử dụng khung giải pháp của luận văn để xây dựng kế hoạch hành động, ban hành quy chế phối hợp liên ngành và phân bổ ngân sách kiểm tra an toàn thực phẩm hàng năm.
  2. Giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công, Y tế công cộng: Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích về phương pháp tiếp cận hệ thống, kỹ thuật thiết kế bảng hỏi khảo sát 370 mẫu thực địa và phương pháp lượng hóa các tiêu chí đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước tại cơ sở.
  3. Doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ sản xuất, kinh doanh thực phẩm: Giúp các đơn vị hiểu rõ khung quy chuẩn pháp lý, nhận diện các tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc (VietGAP, GMP, HACCP) để chủ động chuyển đổi quy trình canh tác trên 100 ha cây ăn quả và 12 ha rau màu, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
  4. Ban chỉ đạo an toàn vệ sinh thực phẩm các cấp tại vùng Tây Nguyên: Cung cấp nguồn tư liệu thực tế giúp nhận diện các lỗ hổng trong quản lý dịch vụ nấu ăn lưu động, thói quen ăn uống truyền thống và bài học kinh nghiệm từ các địa phương khác để phòng ngừa ngộ độc thực phẩm diện rộng.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao công tác quản lý an toàn thực phẩm tại huyện Krông Bông lại có tính chất phức tạp đặc thù?
Huyện Krông Bông có địa bàn rộng 1.257,49 km2, địa hình chia cắt mạnh với 14 xã, thị trấn. Thị trường thực phẩm mang tính tự cung tự cấp cao với 89% lượng thịt và 95% rau củ sản xuất nội địa nhưng phân tán nhỏ lẻ. Thói quen sử dụng thực phẩm truyền thống, tập quán giết mổ tại chỗ và sự phát triển của 94 điểm bán thức ăn đường phố gây nhiều trở ngại cho hoạt động kiểm soát dịch bệnh.

Nguồn nhân lực quản lý an toàn thực phẩm tại huyện Krông Bông có những hạn chế nổi cộm nào?
Toàn huyện chỉ có 38 cán bộ tham gia quản lý ở cả 2 cấp, trong đó 28 cán bộ tuyến xã làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Phần lớn cán bộ chưa được đào tạo chuyên sâu về công nghệ thực phẩm và an toàn sinh học. Việc thiếu trang thiết bị kiểm tra nhanh tại chỗ khiến việc phát hiện vi phạm tại 1.080 cơ sở kinh doanh gặp nhiều khó khăn.

Phương pháp khảo sát mẫu của đề tài bảo đảm độ tin cậy khoa học như thế nào?
Nghiên cứu đã xây dựng bảng hỏi chuẩn hóa và tiến hành khảo sát thực nghiệm trên 370 mẫu đại diện, bao gồm 38 cán bộ quản lý nhà nước, 32 chủ cơ sở kinh doanh và 300 người tiêu dùng. Việc phân tầng mẫu theo không gian địa lý từ thị trấn Krông Kmar đến các xã vùng sâu bảo đảm tính khách quan và phản ánh đầy đủ góc nhìn từ các bên liên quan.

Vụ ngộ độc thực phẩm 43 người mắc năm 2020 tại Krông Bông cảnh báo điều gì?
Sự cố ngộ độc khiến 43 người mắc và 11 người nhập viện năm 2020 cho thấy nguy cơ tiềm ẩn rất lớn từ các bữa ăn tập trung, dịch vụ nấu ăn lưu động và tiệc cưới hỏi gia đình. Sự việc phản ánh việc kiểm soát nguyên liệu đầu vào và tập huấn kiến thức vệ sinh cho người chế biến tự do còn nhiều lỗ hổng cần được siết chặt ngay từ cấp thôn buôn.

Mục tiêu cốt lõi của các giải pháp quản lý an toàn thực phẩm đến năm 2025 là gì?
Các giải pháp đặt mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn cho 100% cán bộ tuyến xã, nâng tỷ lệ hiểu biết đúng của người dân và 1.080 cơ sở lên trên 85%, kiểm soát 100% các vụ ngộ độc thực phẩm phát sinh, và nhân rộng diện tích canh tác an toàn VietGAP trên toàn bộ 100 ha đất trồng cây ăn quả và 12 ha rau màu chuyên canh của huyện.

Kết luận

  • Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Lệ Thủy đã hệ thống hóa vững chắc cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại địa bàn cấp huyện miền núi.
  • Phân tích rõ thực trạng giai đoạn 2018 - 2020 với tỷ lệ tự cung ứng thực phẩm đạt trên 89% thịt và 95% rau củ, đồng thời nhận diện nguy cơ tại 1.080 cơ sở kinh doanh và 10 chợ truyền thống.
  • Chỉ ra nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự gia tăng số ca ngộ độc thực phẩm (điển hình là vụ việc 43 ca năm 2020) xuất phát từ năng lực hạn chế của 38 cán bộ kiêm nhiệm và thiếu trang thiết bị xét nghiệm.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp toàn diện về hoàn thiện tổ chức bộ máy, đẩy mạnh truyền thông đa ngữ, tăng cường thanh tra liên ngành và mở rộng chuỗi nông sản VietGAP theo lộ trình 2022 - 2025, tầm nhìn 2030.
  • Nghiên cứu là căn cứ thực tiễn quan trọng thôi thúc chính quyền huyện Krông Bông và các cơ quan hữu quan hành động quyết liệt nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.