MỞ ĐẦU. 1 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM. Khái niệm vệ sinh an toàn thực phẩm. Khái niệm thực hiện pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm.
Khái niệm pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm. Khái niệm thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm. Các hình thức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm .Tuân thủ pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm. Thi hành pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm.
Sử dụng pháp luật vệ sinh an toàn vệ sinh thực phẩm. Áp dụng pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm. Đặc điểm thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm. Về phạm vi điều chỉnh.
Về hệ thống pháp luật điều chỉnh. Về các chủ thể thực hiện. Đối với chủ thể là cơ quan nhà nước. Đối với chủ thể là tổ chức.
Đối với chủ thể là cá nhân. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm. Yếu tố kinh tế và lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh .Yếu tố pháp luật. Yếu tố ý thức pháp luật và đạo đức của các chủ thể tham giam quan hệ pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm.
Yếu tố hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Yếu tố kỹ thuật công nghệ. Yếu tố tài chính, kinh phí thực hiện. 28 CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM.
Tình hình thi hành pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội .Thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn hà nội. Nguyên nhân gây mất an toàn thực phẩm. Thực trạng thực hiện pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội. Những quy định của pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm.
Luật An toàn thực phẩm số 55/2010. Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi 2015. Nghị định số 178/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm. Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội .1 Những thuận lợi trong quá trình thực hiện pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội.
Những khó khăn trong quá trình thực hiện pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội. Kết quả đạt được. 53 CHƢƠNG III. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM.
Các quan điểm cơ bản về thực hiện pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm. Đảm bảo lợi ích chính đáng của mỗi chủ thể trong quan hệ pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm. Đảm bảo nguyên tắc bình đẳng công bằng trong quá trình triển khai và thực hiện pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm. Đảm bảo tính công khai trong tổ chức thực hiện pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm.
Các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm. Hoàn thiện pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm. Xây dựng và nâng cao trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm. Giáo dục pháp luật pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm.
Yêu cầu các tổ chức sản xuất, kinh doanh ký cam kết an toàn vệ sinh thực phẩm. Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh, công bằng mọi hành vi vi phạm pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm. Nâng cao vai trò của Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng trong việc thực hiện pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm. Đảm bảo và nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ trong công tác thực hiện pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm.
Giải pháp đối với Hà Nội 66 KẾT LUẬN. 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. Tính cấp thiết của đề tài An toàn vệ sinh thực phẩm hay an toàn thực phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là một môn khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra. Vệ sinh an toàn thực phẩm cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trong khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ sức khỏe tiềm ẩn nghiêm trọng.
Hiểu theo nghĩa rộng, vệ sinh an toàn thực phẩm là toàn bộ những việc cần làm liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh đối với thực phẩm nhằm đảm bảo cho sức khỏe của người tiêu dùng. [27] Bảo đảm chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe người dân, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, duy trì và phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa xã hội và thể hiện nếp sống văn minh. Mặc dù cho đến nay đã có khá nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong công tác bảo vệ và an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như biện pháp về quản lý giáo dục như ban hành luật, điều lệ và thanh tra giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng các bệnh do kém chất lượng về vệ sinh thực phẩm và thức ăn ở Việt Nam vẫn chiếm tỷ lệ khá cao. Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường.
Các loại thực phẩm sản xuất, chế biến trong nước và nước ngoài nhập vào Việt Nam ngày càng nhiều chủng loại. Việc sử dụng các chất phụ gia trong sản xuất trở nên phổ biến. Các loại phẩm màu, đường hóa học đang bị lạm dụng trong pha chế nước giải khát, sản xuất bánh kẹo, chế biến thức ăn sẵn như thịt quay, giò chả, ô mai,… Nhiều loại thịt bán trên thị trường không qua kiểm duyệt thú y. Tình hình sản xuất thức ăn, đồ uống giả, không đảm bảo chất lượng và không theo đúng thành phần nguyên liệu cũng như quy 1 trình công nghệ đã đăng ký với cơ quan quản lý.
Nhãn hàng và quảng cáo không đúng sự thật vẫn xảy ra. Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật bao gồm thuốc trừ sâu, diệt cỏ, hóa chất kích thích tăng trưởng và thuốc bảo quản không theo đúng quy định gây ô nhiễm nguồn nước cũng như tồn dư các hóa chất này trong thực phẩm. Việc bảo quản lương thực thực phẩm không đúng quy cách tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm mốc phát triển đã dẫn đến các vụ ngộ độc thực phẩm. Các bệnh do thực phẩm gây nên không chỉ là các bệnh cấp tính do ngộ độc thức ăn mà còn là các bệnh mạn tính do nhiễm và tích lũy các chất độc hại từ môi trường bên ngoài vào thực phẩm, gây rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể, trong đó có bệnh tim mạch và ung thư.
Có thể thấy vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm là một vấn đề hết sức cấp thiết, có tính thời sự cao đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay. Điểm mấu chốt của thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm là sự xiết chặt quản lý của các cơ quan chức năng nhà nước. Muốn làm tốt công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thì trước tiên phải có các văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ ràng về vấn đề này. Sau đó là khâu áp dụng và thực hiện.
Thực hiện pháp luật tốt, có những quy định, chế tài nghiêm minh cộng với công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật đến người dân thì mới có thể đảm bảo hiệu quả của an toàn vệ sinh thực phẩm. Do nhận thức và trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm còn thấp, đôi khi chạy theo lợi nhuận, cố tình sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn, thực phẩm không đảm bảo chất lượng mà người tiêu dùng không biết hoặc biết không đầy đủ về chất lượng sản phẩm nên đã sử dụng những sản phẩm đó. An toàn vệ sinh thực phẩm là một vấn đề quan trọng có tính chất sống còn đối với sức khỏe của người dân nói riêng và sự phát triển giống nòi của cả dân 2 tộc nói chung. Tuy nhiên trên thực tế việc thực hiện an toàn vệ sinh thực phẩm trong phần lớn các bộ phận người dân, từ người sản xuất cho đến kinh doanh hàng hóa thực phẩm và người tiêu dùng còn rất thấp.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm như hiện nay bắt nguồn từ sự bất cập của các văn bản pháp luật trong lĩnh vực này. Tình trạng một sản phẩm thực phẩm chịu sự quản lý và giám sát cùng lúc của 3-4 bộ, ngành khác nhau dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc”. Tuy có rất nhiều văn bản, nhưng vừa chồng chéo, không phân định rõ ràng trách nhiệm quản lý giữa các bộ, ngành lại vừa thiếu sót, chưa phủ hết các lĩnh vực, có khoảng trống giữa các khâu trong trách nhiệm quản lý liên tục một loại sản phẩm. Một số lĩnh vực mới phát sinh (như thực phẩm chức năng, một số độc chất và vi chất) chưa được hướng dẫn quản lý cụ thể, chi tiết nên địa phương rất khó thực hiện.
Bên cạnh đó, có những quy định không phù hợp với thực tế như: hiện tuyến xã không thể nào có đủ cán bộ chuyên môn để thực hiện việc khám sức khỏe, thẩm định cơ sở, cấp giấy phép theo quy định; những thử nghiệm cho kết quả ngay thì không đủ cơ sở pháp lý để xử phạt và xử lý ngay, nhằm tránh ngộ độc thực phẩm xảy ra, còn chờ kết quả chính thức thì thực phẩm đã được tiêu thụ hết; mức xử lý vi phạm còn chưa phù hợp với quy mô của cơ sở. Ngoài tình trạng chồng chéo và thiếu thống nhất, vấn đề quan trọng là hiệu quả quản lý thấp, không đi vào cuộc sống. Bên cạnh việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật sát với thực tiễn cuộc sống thì việc triển khai thực hiện là vấn đề rất quan trọng cần được đẩy mạnh. Có như vậy thì luật mới có thể đi vào cuộc sống, tạo sự thay đổi tích cực đối với xã hội.