CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE BAO CHÍ VỚI VAN DE AN TOÀN THUC PHAM 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm về thông tin và thông tin báo chí 1. Thông tin Khái niệm “thông tin” được bắt nguồn từ chữ Latinh informetio, gốc của từ tiếng Anh information.
Theo các tác giả của cuốn sách Bang no truyền thông là Philippe Breton và Serge Proulx thi thông tin có hai hướng nghĩa: “Thi nhất là, nó về một hành động cụ thé dé tao ra một hình dạng (forme), thứ hai là, nói vé sự truyền đạt mộtý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng. Hai hướng nghĩa này cùng tôn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt”. Nó thê hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức. Theo từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (2009), thông tin khi là động từ có nghĩa là “fruyên tin, báo tin cho người khác biết”; khi là danh từ, thông tin có 2 nghĩa, thứ nhất là “Điêu hoặc tin được truyền di cho biết” (ví dụ: bài viết có chat lượng thông tin cao), thứ hai là “Sự truyén đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó ”.1226) Luật Tiếp cận thông tin số 104/2016/QH13 của Quốc hội có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2018, thông tin được hiểu 1a “tin, đữ liệu được chứa dựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, ton tại dưới dạng bản viết, ban in, ban điện tử, tranh, anh, bản vẽ, băng dia, ban ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra”.
(39, Khoản 1, Điều 2) Có thé khái quát, thông tin được hiểu theo hai nghĩa, thứ nhất /à nội dung thông tin; thứ hai là phương tiện thông báo, truyền tin. Thông tin báo chi Báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng, truyền tải thông tin về các sự kiện, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan một cách nhanh 17 chóng, chính xác và trung thực đến đông đảo công chúng nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn. Đặc điểm nổi bật của báo chí là tính công khai, trung thực, chính xác, và sự lan tỏa nhanh chóng, rộng khắp. Công chúng tìm đến báo chí trước hết là dé tìm kiếm thông tin.
Khái niệm thông tin là nền tảng của công tác báo chí. Trong lí luận báo chí, thông tin được hiểu theo hai cách, thứ nhất, đó là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống: thứ hai, đó là sự loan báo cho mọi người biết băng cách sử dụng phương tiện kỹ thuật để truyền đạt kết quả sáng tạo của nhà báo ra thế giới xung quanh. Như vậy, thông tin cũng chính là chức năng của báo chí theo nghĩa là sử dụng phương tiện kỹ thuật để phổ biến kết qua lao động sáng tao của nhà báo. Trong hoạt động báo chí, thông tin là yêu tố chủ yếu dé nha báo thực hiện mục đích của mình.
Thông tin trở thành “cầu nối” giữa báo chí và công chúng. Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ thông tin có nhiều cách sử dụng khác nhau, có khi chỉ là thông báo ngắn về một sự kiện mới (tin vắn, tin ngăn); có khi nó được dùng dé chỉ tat cả các thé loại được dùng dé ghi chép các sự kiện, hiện tượng mới.Một chương trình phát thanh, truyền hình, các tiêu dé, vị trí của tác phẩm trên các cột báo, giọng đọc của phát thanh viên, các cỡ chữ hay cách xếp chữ trên các tờ báo.chúng đều có chứa đựng thông tin. Chúng ta cũng có thé gọi toàn bộ tác phẩm, hay hệ thống tin tức. là thông tin.
Thuật ngữ thông tin báo chí, hiểu theo nghĩa rộng, là “foàn bộ các tin tức (bằng ngôn từ và ca hình thức được ghi lại không bằng ngôn từ) mà báo chí dem lại cho công chúng”, “bên cạnh thông tin thời sự, trong nguồn thông tin của báo chí con có thông tin cơ bản và bình luận, thông tin nghệ thuật và chính luận”. Nói cách khác, đó là toàn bộ thông điệp mà tác phẩm báo chí mang đến cho người tiếp nhận; nội dung thông điệp chính là ngữ nghĩa trong văn bản.64) Tác phẩm báo chí là cầu nối của hệ thống nhà báo — tác phẩm — công chúng nhưng tác phâm báo chí mới chỉ là thông tin tiềm năng. Muốn thông tin tiềm năng trở thành thông tin hiện thực thì tác pham báo chí phải được công chúng tiếp nhận 18 thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc có thể họ là người được tiếp nhận lại thông tin từ người đã từng nghe, từng xem, đọc kể lại. Như vậy “Thông tin không chỉ đơn giản là tác phẩm báo chí mà là những tác phẩm báo chí khi đã được công chúng tiếp nhận ”.59) Trong hoạt động báo chí, khi tìm hiểu về khái niệm thông tin cần đặt nó trong mối liên hệ trực tiếp với vấn đề hiệu quả, tức là ảnh hưởng trực tiếp của thông tin đối với công chúng, hướng dẫn nhận thức và giáo dục đạo đức cho họ để họ có hành động đúng đắn.
Và nhiệm vụ của báo chí là mang thông tin đến cho công chúng và thông tin phải mang hơi thở của cuộc sống. Cách phân loại thông tin báo chí được dựa trên cơ sở cách phân loại thực tế, hiện hành và phô biến của báo chí hiện nay. Do là phân loại theo đề tài — tức là theo lĩnh vực thực tiễn mà báo chí phản ánh (ví dụ: các đề tài về chính trị-xã hội, về kinh tế, về văn hóa, giáo dục. Thực phẩm, ATTP, vấn dé ATTP, thông tin về ATTP 1.
Thực phẩm Thực phẩm là bất ky vật phẩm nào, bao gồm chủ yếu các chất: chất bột (cacbohydrat), chất béo (ipit), chat dam (protein), hoặc nước, ma con người hay động vật có thể ăn hay uống được, với mục đích cơ bản là thu nạp các chất dinh dưỡng nhằm nuôi dưỡng cơ thể hay vì sở thích. Các thực phẩm chủ yếu có nguồn sốc từ thực vật, động vật và vi sinh vật, tuy nhiên cũng tồn tại một hoặc một vài các sản phẩm chế biến từ phương pháp lên men như rượu, bia. Tùy theo tính chất và mục dich sử dụng, có thé phân thực phẩm thành các loại như thực pham tươi sống, thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng. Theo TS Phạm Đức Lượng và TS Pham Minh Tâm: “7c phẩm không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng cho con người phát triển, duy tri sự sống và lao động, thực phẩm còn là nguồn tạo ra ngộ độc cho con người nếu như ta không tuân thủ những biện pháp vệ sinh thực phẩm hữu hiệu”.4) Trong Luật ATTP số 55/2010/QH12 ngày 17/6/2010 định nghĩa: “Thc phâm là sản pham mà con người ăn, uống ở dang tươi sông hoặc đã qua sơ chế, 19 chế biến, bảo quản.
Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm” (35, Khoản 20, Điều 2). Luật cũng chỉ rõ có các loại thực phẩm: thực phẩm tươi sống: thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng: thực phẩm chức; thực phẩm biến đổi gen; thực phẩm đã qua chiếu xạ; thức ăn đường phó; thực phẩm bao gói sẵn. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm Thực phẩm được quy định tại Khoản 20, Điều 2 của Luật ATTP năm 2010. An toàn thực phẩm Trong cuốn Vệ sinh và an toàn thực phẩm của TS Phạm Đức Lượng và TS Phạm Minh Tâm quan niệm: “477P được hiểu như khả năng không gây ngộ độc của thực phẩm doi với con người.
“Theo nghĩa rộng hơn ATTP còn được hiểu là kha năng cung cấp day đủ và kịp thời về số lượng và chất lượng thực phẩm một khi quốc gia gặp thiên tai hoặc một lý do nào đó”.6) Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số 12/2003/PL-UBTVQHII ngày 26/7/2003 về VSATTP, tại Khoản 2, Điều 3 quy định “VSATTP là các điều kiện và biện pháp can thiết dé bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mang con nguov’. Trong đó, điều kiện bảo đảm ATTP là phải đáp ứng được những quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, tuân thủ quy định về giới hạn vi sinh vật gây bệnh, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng thuốc thú y, kim loại nặng, tác nhân gây 6 nhiễm và các chất khác trong thực pham có thé gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người. Ngoài ra thực pham an toàn còn phải đáp ứng một hoặc một số quy định như quy định về sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; quy định về bao gói và ghi nhãn thực phẩm; quy định về bảo quản thực phẩm. Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-VPQH ngày 29/6/2018 của Văn phòng Quốc hội hợp nhất Luật ATTP vẫn giữ nguyên định nghĩa về thực phẩm và ATTP.
20 Luật ATTP năm 2010 và Văn bản hợp nhất luật số 02/ VBHN-VPQH sử dụng cụm từ “an toàn thực phẩm” thay cho cụm từ “an toàn vệ sinh thực phẩm” trong Pháp lệnh VSATTP số 12/2003/PL-UBTVQHII. Tuy vậy, khái niệm “an toàn thực phẩm” và “vệ sinh an toàn thực phẩm” về bản chất giống nhau và cho đến nay hai cụm từ này vẫn được sử dụng song song Trong Điều 2 của Luật ATTP còn có các khái niệm về các sự có mat ATTP như sau: - Bệnh truyền qua thực phẩm là bệnh do ăn, uống thực phẩm bị nhiễm tác nhân gây bệnh. (Khoản 2) - Ngộ độc thực phẩm là tinh trạng bệnh lý do hấp thụ thực pham bi 6 nhiễm hoặc có chứa chất độc. (Khoản 10) - Nguy cơ ô nhiễm thực phẩm là khả năng các tác nhân gây ô nhiễm xâm nhập vào thực phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
(Khoản 11) - Ô nhiễm thực phẩm là tình trạng xuất hiện bất kỳ một chất lạ nào (chất ô nhiễm) trong thực phẩm. (Khoản 12) - Su có về ATTP là tình huông xảy ra do ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm hoặc các tình huống khác phát sinh từ thực phẩm gây hại trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con người. (Khoản 17) - Tác nhân gây ô nhiễm là yêu t6 không mong muốn, không được chủ động cho thêm vào thực phẩm, có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến ATTP. (Khoản 18) ATTP không chỉ là điều kiện vệ sinh của thực phẩm, dụng cụ chế biến hay bao bì, mà còn là các biện pháp cần thiết để đảm bảo thực phẩm không xảy ra các rủi ro do các loại vi khuẩn, hóa chất, tình trạng vật lý hay nhiễm bệnh gây ra trong quá trình sản xuất, chế biến.