Chương 1. Những vấn đề pháp lý cơ bản về doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo pháp luật Trung Quốc. Thành tựu, hạn chế của Trung Quốc trong thu hút đầu tư nước ngoài và một số so sánh với pháp luật đầu tư của Việt Nam. Một số đánh giá về hình thức thu hút đầu tư qua mô hình Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP 100% VỐN NƢỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC Trong khoa học kinh tế, đầu tư được quan niệm là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế, xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó. Đầu tư là nhân tố không thể thiếu để xây dựng và phát triển kinh tế, là “chìa khóa” của sự tăng trưởng kinh tế. Dưới góc độ pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật qui định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác. Luật Đầu tư Việt Nam năm 2005 định nghĩa, “đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư”.
Dựa trên các tiêu chí khác nhau, người ta có thể phân chia đầu tư thành các loại khác nhau nhằm lựa chọn các giải pháp kinh tế và pháp lý thích hợp để thúc đẩy và tăng cường hiệu quả đầu tư cũng như hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư. Căn cứ vào tính chất quản lý của nhà đầu tư đối với vốn đầu tư, hoạt động đầu tư được chia thành: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng các nguồn lực (vốn) đầu tư. Khác với đầu tư gián tiếp, trong hoạt động đầu tư trực tiếp không có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý của nhà đầu tư đối với vốn đầu tư.
Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trực tiếp trong nước hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại quan hệ kinh tế có yếu tố nước ngoài, được đặc trưng bởi sự di chuyển nguồn lực đầu tư (tư bản) trên phạm vi quốc tế với mục đích kinh doanh thu lợi nhuận. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đầu tư trực tiếp thường tồn tại dưới các hình thức cơ bản là: đầu tư vào tổ chức kinh tế (thành lập hoặc góp vốn), đầu tư theo hợp đồng (BCC, BOT, BTO, BT), đầu tư phát triển kinh doanh hoặc đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp. Luận văn này nghiên cứu về hình thức đầu tư trực tiếp thông qua thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài theo loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn, được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và Luật Công ty của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
Khái quát về doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài theo pháp luật Trung Quốc Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là công ty, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân, cùng tham gia đầu tư hoặc độc lập tạo lập một trong các loại hình doanh nghiệp theo qui định của pháp luật Trung Quốc, trên lãnh thổ Trung Quốc. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng là một loại hình doanh nghiệp, mang các đặc điểm, tính chất tương tự các doanh nghiệp trong nước khác, tuy nhiên trong quá trình thành lập, hoạt động và quản lý do có yếu tố liên quan đến nước ngoài nên từ góc độ pháp lý nó cũng có những tính chất đặc thù riêng. Một là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là biện pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp quốc tế. Việc tổ chức mô hình Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là phương thức nhằm tranh thủ dòng vốn đầu tư trực tiếp của tư bản tư nhân quốc tế, là vấn đề thuộc phạm trù đầu tư quốc tế.
Trong hai hình thức thu hút đầu tư trực tiếp và gián tiếp thì Trung Quốc luôn đặt trọng điểm vào thu hút đầu tư trực tiếp. Vì nó đáp ứng được nhu cầu về vốn và không làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài cho Nhà nước, đồng thời lại có thể thu hút được trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ và thiết bị 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện đại, kinh nghiệm quản lý. Với quan điểm đó, pháp luật Trung Quốc về đầu tư cũng ghi nhận rõ việc khuyến khích thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước này. Hai là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là thành phần kinh tế đặc biệt.
Theo Hiến pháp Trung Quốc, đối với thành phần kinh tế doanh nghiệp Trung Quốc có 4 loại: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp liên kết và doanh nghiệp tư nhân, trong đó 3 loại hình đầu là doanh nghiệp công hữu và giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế. Doanh nghiệp tư nhân giữ vai trò là lực lượng bổ sung trong giai đoạn phát triển hiện nay. Trong khi đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không nằm trong cả 4 loại thành phần kinh tế nói trên, không thuộc hình thức công hữu, mà cũng không thuộc hình thức tư hữu. Ngay cả trong hai hình thức hợp tác kinh doanh và hợp vốn kinh doanh thì phía Trung Quốc tham gia vào quan hệ này chủ yếu là vốn thuộc sở hữu nhà nước.
Tính chất sở hữu của hai loại hình này vẫn là sở hữu nhà nước. Còn trong loại hình doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì mang tính chất sở hữu tư bản tư nhân. Nếu hợp tác kinh doanh và hợp vốn kinh doanh diễn ra giữa doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân của phía Trung Quốc kết hợp với tư bản tư nhân nước ngoài thì nó mang tính chất sở hữu tư nhân hỗn hợp. Tính đặc thù của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thể hiện rõ ở vai trò và địa vị pháp lý của nó, loại hình này là một thành phần kinh tế phi nhà nước, được nhà nước cho phép tồn tại và bảo vệ trong một giai đoạn lịch sử nhất định, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển.
Ba là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước mang tính chất kinh doanh xuyên quốc gia. Kinh doanh xuyên quốc gia tức là việc nhà đầu tư của một nước đầu tư tạo lập các thực thể kinh doanh hoặc hoạt động thương mại ở hai quốc gia trở lên đồng thời trực tiếp quản lý hoặc kiểm soát các hoạt động kinh tế đó. Các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư vào Trung Quốc đa phần 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đều là những doanh nghiệp đã có nền tảng vững chắc ở nước mình hoặc nước khác và hoạt động đầu tư vào Trung Quốc chỉ mang tính tìm kiếm thị trường, mở rộng hoạt động kinh doanh. Việc thành lập doanh nghiệp tại Trung Quốc là nhằm tiếp tục nắm giữ quyền quản lý, kiểm soát doanh nghiệp, trực tiếp tham gia vào việc phân phối lợi nhuận và gánh vác trách nhiệm từ hiệu quả hoạt động kinh doanh ở thị trường Trung Quốc.
Do vậy, có thể nói doanh nghiệp có vốn đầu tư nước mang tính chất xuyên quốc gia. Bốn là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước là doanh nghiệp hoạt động có thời hạn. Việc thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước thường đều bị hạn chế bởi thời hạn hoạt động. Đây là đặc điểm xuất phát từ nhu cầu của nước nhận đầu tư và cũng là bản chất của người đi đầu tư.
Trung Quốc thu hút đầu tư nước ngoài là nhằm thúc đẩy hiện đại hóa đất nước, xây dựng Chủ nghĩa xã hội, còn nhà đầu tư nước ngoài và vốn tư bản khi tham gia vào phân công kinh tế của Trung Quốc là nhằm tìm kiếm các lợi ích kinh tế hoặc phi kinh tế như khai thác tài nguyên, sản xuất hàng hóa, tìm kiếm lợi nhuận,. Do vậy, trong suốt một thời gian dài dù Trung Quốc khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài đầu tư thành lập doanh nghiệp hoạt động tại Trung Quốc nhưng không cho phép chúng tồn tại vĩnh viễn mà sẽ bị hạn chế bởi thời hạn hoạt động khi đăng ký tạo lập. Đây cũng là lý do mà nhiều tài liệu nghiên cứu về Luật Công ty của Trung Quốc xếp loại hình công ty có vốn đầu tư nước ngoài này vào nhóm các công ty đặc biệt. Trung Quốc cho đến nay vẫn chưa có Luật đầu tư chung hay Luật đầu tư nước ngoài điều chỉnh mọi hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, mà từng hình thức đầu tư sẽ được điều chỉnh bởi các đạo luật riêng, mỗi đạo luật điều chỉnh một hình thức đầu tư cụ thể.
Hiện tại, với hình thức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Trung Quốc sử dụng 3 đạo luật khác nhau tương ứng với 3 phương thức thu hút FDI là: “Luật Doanh nghiệp hợp vốn kinh doanh Trung 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quốc và nước ngoài” có đối tượng điều chỉnh là doanh nghiệp hợp vốn kinh doanh (Việt Nam gọi là công ty liên doanh); “Luật Doanh nghiệp hợp tác kinh doanh Trung Quốc và nước ngoài” điều chỉnh đối tượng đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác BCC (hình thức này ở Trung Quốc có thể thành lập pháp nhân hoặc không thành lập pháp nhân); và “Luật Doanh nghiệp vốn nước ngoài” có đối tượng điều chỉnh là Công ty 100% vốn nước ngoài. Sau khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành lập xong, quá trình quản lý, vận hành doanh nghiệp sẽ được điều chỉnh bởi Luật Công ty. “Công ty TNHH và công ty cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài chịu sự điều chỉnh bởi luật này. Trường hợp pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài có qui định khác thì áp dụng theo qui định đó” (Điều 217, Luật Công ty Trung Quốc).
Hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật điều chỉnh doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc bao gồm: Về văn bản luật: Luật Công ty (luật chung); Luật Doanh nghiệp hợp vốn kinh doanh Trung Quốc và nước ngoài (điều chỉnh đối tượng là công ty liên doanh); Luật Doanh nghiệp vốn nước ngoài (điều chỉnh đối tượng là công ty 100% vốn nước ngoài.