Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phát triển kinh tế luôn gắn liền với nguy cơ suy thoái môi trường do hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên và xả thải các chất độc hại. Để giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, chính sách thuế được các quốc gia trên thế giới sử dụng như một công cụ tài chính then chốt nhằm điều tiết hành vi sản xuất, tiêu dùng theo hướng bền vững. Tại Việt Nam, khái niệm kinh tế xanh bắt đầu được tiếp cận từ năm 2010. Trước thời điểm này, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có sắc thuế chuyên biệt điều chỉnh trực tiếp các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường. Dù hệ thống pháp luật thuế sau đó đã từng bước được bổ sung, điều chỉnh, nhưng tác động thực tế của các chính sách thuế đối với mục tiêu phát triển kinh tế xanh vẫn còn nhiều hạn chế và chưa được nghiên cứu toàn diện dưới góc độ pháp lý.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hà (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2024) với đề tài "Pháp luật thuế đối với mục tiêu phát triển kinh tế xanh - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" tập trung giải quyết các khoảng trống lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật thuế tại Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá toàn diện các quy định pháp luật thuế gắn với mục tiêu kinh tế xanh, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi tại Việt Nam.

Tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Phân tích nội dung lý luận về thuế đối với mục tiêu phát triển kinh tế xanh và pháp luật thuế đối với mục tiêu phát triển kinh tế xanh.
  2. Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật thuế đối với mục tiêu phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam hiện nay.
  3. Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật thuế đối với mục tiêu phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật thuế Việt Nam đối với mục tiêu phát triển kinh tế xanh, pháp luật có liên quan của một số quốc gia trên thế giới (Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore) và thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật thuế này tại Việt Nam dựa trên các dữ liệu sơ cấp, thứ cấp.
  • Phạm vi nội dung: Cơ sở lý luận về pháp luật thuế xanh, đánh giá hiệu quả tác động của các sắc thuế hiện hành (cơ chế thu, mức thuế, chính sách ưu đãi, hạn chế) và các định hướng điều chỉnh, bổ sung quy định mới.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung phân tích sự phát triển của khái niệm kinh tế xanh và chính sách thuế tương ứng từ năm 2010 đến nay; sử dụng dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê môi trường giai đoạn 2011 - 2022.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống pháp luật và thực tiễn tại Việt Nam, có sự đối chiếu so sánh với mô hình chính sách của Hàn Quốc, Trung Quốc và Singapore.

Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng

Khóa luận tiếp cận các khái niệm học thuật và pháp lý cơ bản:

  • Thuế: Là khoản đóng góp bắt buộc của các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Thuế mang ba đặc điểm pháp lý cơ bản: tính bắt buộc, tính quyền lực Nhà nước, tính không đối giá và không hoàn trả trực tiếp.
  • Kinh tế xanh (Green Economy): Dẫn chiếu định nghĩa từ Liên minh châu Âu (EU), Phòng Thương mại Quốc tế (ICC), Ủy ban các vấn đề Kinh tế - Xã hội của Liên Hợp Quốc (UNDESA, 2012) và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP): Nền kinh tế mang lại phúc lợi cho con người, công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể các nguy cơ về môi trường và sự suy giảm sinh thái.
  • Mục tiêu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam: Căn cứ Điều 1 Quyết định số 1393/QĐ-TTg năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, gồm 03 nhiệm vụ chiến lược: (i) Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; (ii) Xanh hóa sản xuất; (iii) Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
  • Thuế đối với mục tiêu phát triển kinh tế xanh: Là khoản đóng góp bắt buộc đối với tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, đồng thời thể hiện chính sách ưu đãi, khuyến khích phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh thân thiện với môi trường.

Hệ thống văn bản pháp luật và công ước quốc tế

Nghiên cứu dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế:

  • Luật Thuế Bảo vệ môi trường 2010, Nghị định 67/2011/NĐ-CP, Nghị định 69/2012/NĐ-CP, Thông tư 152/2011/TT-BTC, Nghị định 06/2022/NĐ-CP (quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ôzôn).
  • Luật Thuế Giá trị gia tăng 2008 (sửa đổi, bổ sung các năm 2013, 2014, 2016), Luật số 106/2016/QH13, Thông tư 219/2013/TT-BTC.
  • Luật Thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016, Nghị định 134/2016/NĐ-CP.
  • Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt, Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế Tài nguyên, Luật Quản lý thuế.
  • Các văn bản quốc tế: Nghị định thư Montreal, Hiệp định Paris về Biến đổi khí hậu, Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu hủy chúng.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp lý và kinh tế:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Hệ thống hóa lý thuyết về thuế, kinh tế xanh và các công cụ pháp lý điều tiết.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý các số liệu thực tế về phát thải khí nhà kính, số liệu thu ngân sách nhà nước (NSNN) từ các sắc thuế qua các năm.
  • Phương pháp lập luận: Dẫn chiếu, đối chiếu giữa bất cập thực tế và các giải pháp hoàn thiện chính sách.
  • Phương pháp luật học so sánh: Phân tích mô hình pháp luật thuế của Hàn Quốc (Luật Tăng trưởng xanh 2010), Trung Quốc (thuế ô nhiễm và lộ trình thuế carbon) và Singapore (Đạo luật thuế carbon 2019).
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Báo cáo UNEP (2011), Báo cáo OECD (Taxing Energy Use 2018), Báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương - CIEM (2019), Luận án Tiến sĩ của Đinh Thị Hòa (Học viện Tài chính), các bài báo khoa học trên Tạp chí Tài chính, Tạp chí Môi trường và Tạp chí Năng lượng Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về thuế đối với mục tiêu phát triển kinh tế xanh và pháp luật thuế đối với mục tiêu phát triển kinh tế xanh

Chương 1 làm rõ bản chất lý luận, đặc điểm và vai trò của thuế cũng như pháp luật thuế trong việc điều tiết nền kinh tế hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Tác giả phân tích nội dung pháp lý của 06 sắc thuế gắn với mục tiêu xanh:

  • Thuế bảo vệ môi trường: Thuế gián thu đánh vào sản phẩm gây hại môi trường, kiểm soát mức tiêu thụ và tạo nguồn thu hỗ trợ các dự án xanh.
  • Thuế giá trị gia tăng: Tác động qua mức thuế suất phân hóa (0%, 5%, 10%) và diện không chịu thuế để định hướng hành vi tiêu dùng.
  • Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô, khuyến khích nhập khẩu công nghệ cao, máy móc thân thiện với môi trường.
  • Thuế tiêu thụ đặc biệt: Áp thuế cao đối với hàng hóa gây tổn hại môi trường/sức khỏe và ưu đãi thuế đối với sản phẩm sạch (ví dụ: xăng sinh học chịu thuế thấp hơn xăng khoáng).
  • Thuế thu nhập doanh nghiệp: Áp dụng thuế suất ưu đãi (10%), miễn giảm thuế cho doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực môi trường hoặc chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải.
  • Thuế tài nguyên: Kiểm soát hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo.

Tác giả phân tích các yếu tố chi phối việc xây dựng pháp luật thuế xanh:

  • Yếu tố khách quan: Chế độ chính trị - xã hội, quy mô và mô hình kinh tế, thực trạng ngân sách quốc gia.
  • Yếu tố chủ quan: Năng lực, kỹ thuật lập pháp, tính hợp lý và tính khả thi của chính sách thuế trong bối cảnh phục hồi kinh tế.

Chương này phân tích kinh nghiệm quốc tế tại 03 quốc gia:

  • Hàn Quốc: Ban hành Luật Tăng trưởng xanh (2010), áp dụng thuế phát thải khí nhà kính và cung cấp tín dụng ưu đãi cho hạ tầng carbon thấp.
  • Trung Quốc: Chuyển đổi từ cơ chế thu phí ô nhiễm sang áp dụng thuế ô nhiễm, áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và xây dựng lộ trình định giá carbon.
  • Singapore: Quốc gia đầu tiên tại Đông Nam Á áp dụng thuế carbon từ tháng 1/2019 đối với các cơ sở phát thải trực tiếp từ 25.000 tấn $\text{CO}_2$ tương đương ($\text{CO}_2\text{e}$) trở lên mỗi năm. Mức thuế khởi điểm 5 SGD/tấn (giai đoạn 2019 - 2023), tăng lên 25 SGD/tấn (2024 - 2025), 45 SGD/tấn (2026 - 2027) và định hướng đạt 50 - 80 SGD/tấn vào năm 2030 theo Kế hoạch Xanh 2030.

Chương 2: Thực trạng pháp luật thuế đối với mục tiêu phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam

Chương 2 đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xanh và chi tiết hệ thống pháp luật thuế Việt Nam.

1. Thực trạng phát triển kinh tế xanh và thách thức môi trường:

  • Lượng phát thải $\text{CO}_2$ tại Việt Nam tăng nhanh: năm 2011 đạt 155.970 nghìn tấn; đến năm 2021 đạt 321.413 nghìn tấn (tăng hơn gấp đôi sau 10 năm). Đến năm 2022, tổng phát thải từ tiêu dùng năng lượng sơ cấp là 270,0 triệu tấn (chiếm 0,8% toàn cầu, bình quân 2,492 tấn/người).
  • Cơ cấu phát sinh $\text{CO}_2$: Sản xuất công nghiệp tăng 46,54% (ngành sản xuất xi măng phát thải cao nhất, tiếp đến là vôi, amoni, thép); đốt chất thải tăng 15,64%; năng lượng tăng 3,56%; đất nông nghiệp và canh tác lúa tăng 2,05%.
  • Nông nghiệp xanh có chuyển biến: Phát thải $\text{CO}_2$ giảm bình quân 0,19%/năm từ 2015. Tính đến năm 2022, hoạt động nông nghiệp tiết kiệm được 30% - 50% lượng giống, 30% - 40% phân bón hóa học, 30% thuốc trừ sâu, 20% - 30% công lao động; năng suất lúa tăng 10% - 15% và lợi nhuận tăng 10% - 20%.
  • Ngân sách nhà nước dành cho tăng trưởng xanh còn hạn chế, chỉ mới đáp ứng tối đa gần 30% nhu cầu dự toán.

2. Thực trạng quy định và thực thi các sắc thuế:

  • Thuế BVMT: Quy định tại Luật Thuế BVMT 2010. Đối tượng chịu thuế gồm xăng dầu, than đá, túi ni lông, hóa chất nông nghiệp hạn chế sử dụng, chất HCFC (theo Thông tư 152/2011/TT-BTC và Nghị định 06/2022/NĐ-CP). Thuế tính theo mức tuyệt đối trên đơn vị hàng hóa. Năm 2022, số thu thuế BVMT chỉ đạt 72% dự toán (bằng 73,3% so với năm 2021) do thực hiện chính sách giảm thuế BVMT đối với xăng dầu. Bất cập: Danh mục chịu thuế còn hẹp, chưa bao quát các nguồn gây ô nhiễm lớn như chế phẩm hóa - sinh học, rác thải y tế, khí thải công nghiệp; hiện tượng thất thu thuế còn tồn tại.
  • Thuế GTGT: Căn cứ Luật Thuế GTGT 2008 (sửa đổi 2013, 2014, 2016). Điều 5 và Điều 8 quy định mức thuế 0%, 5% hoặc diện không chịu thuế cho các sản phẩm/dịch vụ thân thiện môi trường (vệ sinh công cộng, thoát nước, duy trì công viên, nước sạch sinh hoạt, sản phẩm mây tre đan). Khoản 1 Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 bổ sung quy định sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản chưa chế biến hoặc đã chế biến nhưng tổng trị giá tài nguyên cộng chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành trở lên thuộc diện không chịu thuế GTGT (không được hoàn thuế đầu vào). Hạn chế: Chưa quy định cơ chế hoàn thuế cho doanh nghiệp sản xuất sản phẩm xanh chịu thuế đầu ra 5% nhưng thuế đầu vào 10%; thiếu ưu đãi thuế cho các sản phẩm thay thế đồ nhựa dùng một lần.
  • Thuế XNK: Quy định theo Luật Thuế XNK 2016. Căn cứ khoản 1 Điều 15 Nghị định 134/2016/NĐ-CP, miễn thuế nhập khẩu cho máy móc, thiết bị, nguyên liệu phục vụ trực tiếp hoạt động bảo vệ môi trường, công nghệ cao. Hạn chế: Biểu thuế xuất khẩu chưa đủ sức ngăn chặn triệt để việc xuất khẩu khoáng sản dạng thô.
  • Các sắc thuế khác (TTĐB, TNDN, Tài nguyên): Đã bước đầu áp dụng ưu đãi thuế suất cho doanh nghiệp xã hội hóa môi trường và phân biệt thuế suất đối với nhiên liệu sinh học, tuy nhiên mức độ điều tiết hành vi còn hạn chế.
Sắc thuế Quy định nền tảng Tác động đối với mục tiêu kinh tế xanh Hạn chế, vướng mắc thực tế
Thuế Bảo vệ môi trường Luật Thuế BVMT 2010, NĐ 67/2011/NĐ-CP, TT 152/2011/TT-BTC Đánh thuế tuyệt đối vào xăng dầu, than đá, túi ni lông, dung dịch HCFC. Danh mục hẹp; bỏ sót chất thải y tế, hóa chất nguy hại; năm 2022 thu chỉ đạt 72% dự toán.
Thuế Giá trị gia tăng Luật Thuế GTGT 2008, Luật 106/2016/QH13, TT 219/2013/TT-BTC Miễn thuế dịch vụ công cộng; áp thuế 5% cho nước sạch; hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô qua cơ chế hoàn thuế. Chưa có danh mục sản phẩm xanh rõ ràng; thiếu cơ chế hoàn thuế cho doanh nghiệp đầu vào 10% - đầu ra 5%.
Thuế Xuất khẩu, Nhập khẩu Luật Thuế XNK 2016, NĐ 134/2016/NĐ-CP Miễn thuế nhập khẩu thiết bị, công nghệ môi trường; đánh thuế xuất khẩu khoáng sản. Mức thuế chưa đủ mạnh để chấm dứt tình trạng xuất thô tài nguyên chưa qua chế biến sâu.
Thuế TTĐB, TNDN, Tài nguyên Các Luật thuế chuyên ngành Ưu đãi thuế TNDN 10% cho dự án môi trường; thuế TTĐB thấp cho xăng sinh học; thu tiền khai thác tài nguyên. Mức độ ưu đãi chưa đủ bù đắp chi phí đầu tư công nghệ xanh; quản lý thất thu thuế tài nguyên còn phức tạp.

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế đối với mục tiêu phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam

Chương 3 trình bày các định hướng, nguyên tắc và giải pháp lập pháp cụ thể:

  • Định hướng và nguyên tắc: Đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam hậu Covid-19; tuân thủ nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; kết hợp hài hòa giữa nghĩa vụ tài chính và cơ chế khuyến khích kinh tế.
  • Giải pháp hoàn thiện từng sắc thuế:
    • Thuế BVMT: Mở rộng diện chịu thuế đối với các sản phẩm có nguy cơ gây hại cao (hóa chất công nghiệp, chất thải y tế, bao bì nhựa dùng một lần); điều chỉnh khung mức thuế tuyệt đối để phản ánh đúng mức độ gây hại môi trường.
    • Thuế GTGT: Bổ sung các nhóm hàng hóa, dịch vụ thân thiện với môi trường (sản phẩm từ bã mía, cỏ, gạo, vật liệu tái chế) vào diện chịu thuế suất 5% hoặc không chịu thuế; ban hành quy chế hoàn thuế rõ ràng cho doanh nghiệp sản xuất xanh có thuế GTGT đầu vào lớn hơn đầu ra.
    • Thuế XNK: Nâng mức thuế suất xuất khẩu đối với tài nguyên, khoáng sản thô; bổ sung danh mục miễn thuế nhập khẩu đối với dây chuyền, công nghệ xử lý chất thải hiện đại chưa sản xuất được trong nước.
    • Thuế TTĐB, TNDN và Thuế Tài nguyên: Gia tăng mức độ ưu đãi thuế TNDN cho các dự án xanh, dự án tín chỉ carbon; siết chặt mức thuế tài nguyên đối với các hoạt động khai thác khoáng sản quá mức.
    • Xây dựng khung pháp lý thuế mới: Nghiên cứu, xây dựng lộ trình ban hành sắc thuế carbon tại Việt Nam theo kinh nghiệm của Singapore và Trung Quốc, áp dụng trước mắt cho các ngành công nghiệp phát thải lớn (xi măng, thép, nhiệt điện).

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

Khóa luận đã trích xuất và tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể phản ánh thực trạng phát triển kinh tế xanh và hệ thống thuế tại Việt Nam:

  • Ghi nhận diễn biến phát thải khí $\text{CO}_2$: Giai đoạn 2011 - 2021 phát thải tăng từ 155.970 nghìn tấn lên 321.413 nghìn tấn; năm 2022 tổng phát thải từ tiêu dùng năng lượng là 270 triệu tấn, trong đó ngành sản xuất công nghiệp tăng trưởng phát thải cao nhất (46,54%).
  • Ghi nhận kết quả chuyển đổi nông nghiệp xanh đến năm 2022: Giảm chi phí đầu vào từ 30% - 50% (giống, phân bón, thuốc trừ sâu), giảm phát thải carbon 0,19%/năm, năng suất lúa tăng 10% - 15% và lợi nhuận tăng 10% - 20%.
  • Chỉ ra hạn chế về năng lực ngân sách nhà nước khi chỉ đáp ứng tối đa gần 30% nhu cầu vốn thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh.
  • Đánh giá thực trạng thực thi thuế BVMT: Năm 2022 số thu chỉ đạt 72% dự toán do chính sách hạ thuế hỗ trợ kinh tế phục hồi.

Đóng góp của công trình

  • Về mặt lý luận: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa công cụ thuế và mục tiêu tăng trưởng xanh, phân tích rõ ba đặc trưng của thuế xanh và tiêu chí đánh giá tác động pháp luật thuế.
  • Về kinh nghiệm quốc tế: Cung cấp dữ liệu so sánh chi tiết về mô hình thuế xanh và thuế carbon của Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, đặc biệt là lộ trình định giá carbon từ 5 SGD đến 80 SGD/tấn của Singapore.
  • Về mặt thực tiễn và lập pháp: Đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ từ sửa đổi các luật thuế hiện hành (BVMT, GTGT, XNK, TTĐB, TNDN, Tài nguyên) đến việc chuẩn bị cơ sở pháp lý để ban hành thuế carbon trong tương lai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo tự nhận định của tác giả trong phần mở đầu và kết luận, công trình còn một số hạn chế do kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn chưa sâu sắc; phạm vi khảo sát kinh nghiệm quốc tế mới dừng lại ở ba quốc gia châu Á (Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore); các số liệu thống kê chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn đến năm 2022, chưa phân tích định lượng chuyên sâu tác động kinh tế lượng của từng mức thuế suất cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Khóa luận gợi mở hướng nghiên cứu chuyên sâu về thiết kế mô hình kỹ thuật và cơ chế thu nộp cho sắc thuế carbon tại Việt Nam; đánh giá tác động của thuế carbon đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu trong bối cảnh các thị trường quốc tế áp dụng cơ chế điều chỉnh biên giới carbon.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo cụ thể:

  • Đối tượng sử dụng: Giảng viên, sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế Môi trường và các nhà hoạch định chính sách tài chính công.
  • Nội dung giá trị:
    • Phần tổng quan các quy định pháp luật điều chỉnh 06 sắc thuế gắn với mục tiêu môi trường tại Việt Nam (Luật Thuế BVMT 2010, Luật Thuế GTGT 2008 sửa đổi 2016, Luật Thuế XNK 2016).
    • Dữ liệu so sánh kinh nghiệm lập pháp quốc tế về thuế carbon và thuế phát thải tại Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc.
    • Hệ thống số liệu thống kê thực trạng phát thải khí nhà kính và cơ cấu phát thải theo ngành tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2022.

Câu hỏi thường gặp

1. Mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế xanh của Việt Nam được quy định tại văn bản nào và gồm những nội dung gì?
Mục tiêu phát triển kinh tế xanh được quy định tại Điều 1 Quyết định số 1393/QĐ-TTg năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh. Nội dung gồm 03 nhiệm vụ chiến lược: (1) Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; (2) Xanh hóa sản xuất; (3) Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

2. Diễn biến phát thải khí $\text{CO}_2$ tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2021 và năm 2022 được khóa luận ghi nhận ra sao?
Lượng phát thải $\text{CO}_2$ của Việt Nam năm 2011 là 155.970 nghìn tấn; đến năm 2021 tăng lên 321.413 nghìn tấn (tăng hơn gấp đôi). Năm 2022, tổng phát thải từ tiêu dùng năng lượng sơ cấp là 270,0 triệu tấn (giảm 1,1% so với 2021), chiếm 0,8% tổng phát thải toàn cầu, với mức bình quân đầu người là 2,492 tấn/người. Trong đó, phát thải từ sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất ở mức 46,54%.

3. Khóa luận ghi nhận lộ trình đánh thuế carbon của Singapore như thế nào?
Singapore áp dụng thuế carbon từ tháng 1/2019 đối với các cơ sở phát thải trực tiếp từ 25.000 tấn khí nhà kính/năm trở lên. Thuế suất khởi điểm là 5 SGD/tấn $\text{CO}_2\text{e}$; sau đó điều chỉnh tăng lên 25 SGD/tấn trong năm 2024 - 2025; 45 SGD/tấn trong năm 2026 - 2027; và hướng tới mức 50 - 80 SGD/tấn vào năm 2030 theo Kế hoạch Xanh 2030.

4. Luật số 106/2016/QH13 đã sửa đổi quy định nào của Luật Thuế GTGT nhằm hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô?
Khoản 1 Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 quy định: Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; hoặc sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT (do đó không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào).

5. Vì sao số thu thuế Bảo vệ môi trường năm 2022 tại Việt Nam không đạt dự toán?
Năm 2022, số thu thuế BVMT chỉ đạt 72% dự toán đề ra và bằng 73,3% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân trực tiếp là do Nhà nước thực hiện chính sách giảm mức thuế BVMT đối với các mặt hàng xăng dầu nhằm kiềm chế lạm phát và hỗ trợ phục hồi kinh tế.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hà đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung pháp lý điều chỉnh các sắc thuế gắn với mục tiêu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực trạng thực thi các sắc thuế hiện hành (BVMT, GTGT, XNK, TTĐB, TNDN, Tài nguyên) và số liệu phát thải thực tế giai đoạn 2011 - 2022, tác giả đã chỉ rõ các khoảng trống pháp luật dẫn đến hiệu quả điều tiết môi trường chưa đạt kỳ vọng. Trên cơ sở đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của Hàn Quốc, Trung Quốc và Singapore, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp sửa đổi luật thuế hiện hành và định hướng xây dựng sắc thuế carbon phù hợp với điều kiện Việt Nam.