Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước (PCQLNSNN) là một trong những nội dung trọng yếu của quản lý tài chính công tại Việt Nam. Kể từ khi Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) năm 1996 ra đời và tiếp tục được hoàn thiện qua Luật NSNN năm 2002, Luật NSNN năm 2015, cơ chế phân cấp đã từng bước xác lập hành lang pháp lý nhằm phân định trách nhiệm, quyền hạn giữa trung ương và địa phương. Luật NSNN năm 2015 đã tạo khung khổ tăng tính chủ động, linh hoạt và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương trong việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ công.

Tuy nhiên, trong quá trình thi hành trên thực tế tại thành phố Hà Nội – một đô thị đặc biệt với quy mô thu, chi ngân sách lớn – các quy định pháp luật về phân cấp nguồn thu, phân cấp nhiệm vụ chi và thẩm quyền quyết định ngân sách đã bộc lộ những bất cập, vướng mắc nhất định. Việc bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương (NSTW) đồng thời khuyến khích tính chủ động tài khóa của địa phương đòi hỏi phải có sự đánh giá thấu đáo dưới góc độ pháp lý.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục đích: Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước từ thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu lý luận và thực tiễn liên quan đến PCQLNSNN.
    2. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về PCQLNS và pháp luật về PCQLNSNN.
    3. Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành pháp luật về PCQLNSNN trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2019–2023, chỉ rõ kết quả đạt được cùng những hạn chế.
    4. Xác định phương hướng và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về PCQLNSNN đến năm 2030.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước từ thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi nội dung: Đi sâu vào cơ chế phân cấp nguồn thu giữa NSTW và ngân sách địa phương (NSĐP), phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách tại địa phương, gắn với thẩm quyền quyết định của các cơ quan nhà nước; không đi sâu vào phân cấp vay nợ của chính quyền địa phương và thẩm quyền của các đơn vị dự toán ngân sách.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Thực tiễn thực thi pháp luật tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2019–2023; các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật được xác định đến năm 2030.

Cơ sở lý luận pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tiếp cận ngân sách nhà nước dưới góc độ quy định tại Khoản 14 Điều 4 Luật NSNN năm 2015, xác định hệ thống NSNN Việt Nam gồm NSTW và NSĐP (gồm 3 cấp: ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã). Mô hình tổ chức ngân sách mang tính lồng ghép theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP. PCQLNSNN được tác giả định nghĩa là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp liên quan đến hoạt động thu, chi ngân sách, phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội.

Hệ thống nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách được luận giải gồm 4 nguyên tắc cốt lõi:

  1. NSTW giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược quốc gia và hỗ trợ địa phương chưa cân đối được ngân sách; NSĐP được phân cấp nguồn thu để chủ động thực hiện nhiệm vụ được giao.
  2. Phân cấp quản lý ngân sách phải phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và trình độ quản lý của từng cấp chính quyền.
  3. Bảo đảm tính hiệu quả (hiệu quả phân bổ, tối thiểu hóa chi phí thu gom và chi phí quản lý hành chính qua các cấp trung gian).
  4. Bảo đảm tính công bằng giữa các địa phương thông qua công cụ điều hòa, bổ sung ngân sách.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm nền tảng phân tích gồm: Hiến pháp năm 2013; Luật NSNN năm 2015; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); Luật Phí và lệ phí năm 2015; Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp; Luật Thuế Thu nhập cá nhân; Nghị định số 163/2016/NĐ-CP; Thông tư số 342/2016/TT-BTC; Nghị quyết số 97/2019/QH14 của Quốc hội; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐND, Nghị quyết số 13/2016/NQ-HĐND và Nghị quyết số 22/2022/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố Hà Nội.

Khóa luận kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó của Lê Toàn Thắng (2013), Lê Chi Mai (2006), Tạ Văn Quân (2019), Đinh Văn Linh (2021), Phạm Thanh Hà (2022), Dương Thị Linh (2021)... để làm rõ khoảng trống nghiên cứu dưới lăng kính luật học tại địa bàn Hà Nội.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa: Sử dụng trong Chương 1 nhằm hệ thống các khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và nội dung pháp luật về PCQLNSNN.
  • Phương pháp phân tích, so sánh và thống kê: Sử dụng trong Chương 2 và Chương 3 để đối chiếu quy định pháp luật với dữ liệu thực tế thực hiện thu - chi ngân sách tại Hà Nội giai đoạn 2019–2023, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo tài chính, quyết toán ngân sách thứ cấp thu thập từ Sở Tài chính thành phố Hà Nội và các Nghị quyết phân bổ dự toán của Quốc hội, HĐND thành phố Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về phân cấp quản lý ngân sách và pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách

Chương này tập trung làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nền tảng về phân cấp tài khóa và quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ phân cấp ngân sách:

  • Khái quát về PCQLNS: Phân tích bản chất của hệ thống ngân sách lồng ghép tại Việt Nam. Khẳng định ý nghĩa của phân cấp: nâng cao tính chủ động cho chính quyền địa phương, giảm tải áp lực tài chính cho cơ quan trung ương, và tăng cường sự tham gia, giám sát của người dân thông qua HĐND các cấp.
  • Pháp luật về PCQLNS: Xác định đây là một bộ phận của ngành luật tài chính. Tác giả chỉ ra 5 đặc điểm pháp lý cơ bản: (1) Tính quy phạm phổ biến; (2) Tính bắt buộc chung; (3) Thể hiện ý chí của Nhà nước; (4) Được quy định trong nhiều văn bản luật liên quan (Luật Tổ chức chính quyền địa phương, các luật thuế, Luật Phí và lệ phí); (5) Phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng và điều kiện kinh tế - xã hội.
  • Nội dung pháp luật PCQLNS: Phân tích hai nhóm quan hệ pháp luật chủ yếu:
    • Quy định về phân cấp nguồn thu và thẩm quyền quyết định nguồn thu (nguồn thu hưởng 100%, nguồn thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa NSTW và NSĐP, nguồn thu phân chia giữa các cấp ngân sách địa phương, các khoản bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu).
    • Quy định về phân cấp nhiệm vụ chi và thẩm quyền ban hành chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu ngân sách.
  • Các nhân tố ảnh hưởng: Làm rõ 5 nhóm nhân tố chi phối quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật PCQLNSNN gồm: đường lối, chính sách của Đảng; ý thức pháp luật và trình độ của chủ thể có thẩm quyền; mức độ hoàn thiện của hệ thống văn bản pháp luật; điều kiện vật chất - kỹ thuật bảo đảm; cơ cấu tổ chức và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách và thực tiễn thực hiện ở thành phố Hà Nội

Chương 2 phân tích chi tiết các quy định pháp luật thực định và đối chiếu với số liệu thu - chi thực tế tại Hà Nội giai đoạn 2019–2023.

1. Thực trạng pháp luật về phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi

  • Về nguồn thu: Quy định rõ các khoản NSĐP hưởng 100% (Điều 37 Luật NSNN 2015) như thuế tài nguyên (trừ dầu khí), thuế sử dụng đất nông nghiệp/phi nông nghiệp, lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất... Các khoản phân chia theo tỷ lệ phần trăm (Điều 35, Điều 37) gồm: thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thuế bảo vệ môi trường.
  • Về thẩm quyền: Quốc hội quyết định tỷ lệ phân chia giữa NSTW và từng địa phương trong thời kỳ ổn định ngân sách; HĐND cấp tỉnh quyết định tỷ lệ phân chia giữa các cấp chính quyền địa phương đối với phần ngân sách được hưởng và nguồn thu 100% của địa phương; quy định mức thu phí, lệ phí trong danh mục do Quốc hội ban hành.
  • Về nhiệm vụ chi: Quy định rõ nhiệm vụ chi của NSĐP tại Điều 38 Luật NSNN năm 2015 (chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên sự nghiệp giáo dục, khoa học công nghệ, y tế, quản lý hành chính...). HĐND cấp tỉnh có quyền quy định định mức phân bổ, chế độ chi tiêu đặc thù ngoài khung chung nhưng không được trái quy định trung ương.

2. Thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội

  • Điều chỉnh phân cấp theo mô hình chính quyền đô thị: Thực hiện Nghị quyết số 97/2019/QH14 và Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐND, từ 01/7/2021 Hà Nội không tổ chức HĐND phường. Cơ quan hành chính tại phường chuyển thành UBND phường – đơn vị dự toán trực thuộc UBND quận/thị xã; toàn bộ nguồn thu và nhiệm vụ chi của cấp phường chuyển thành của ngân sách cấp quận, thị xã.
  • Thực hiện cơ chế tạo nguồn lực cho 5 huyện đề án lên quận: Giai đoạn 2022–2025, theo Nghị quyết số 22/2022/NQ-HĐND, TP Hà Nội đã phân cấp điều tiết tối đa 32% nguồn thu phân chia (thuế GTGT, thuế TNDN từ DNNN trung ương, DNNN địa phương, DN FDI) cho 5 huyện: Đông Anh, Gia Lâm, Hoài Đức, Đan Phượng, Thanh Trì nhằm giúp các địa phương này tự chủ cân đối.
  • Diễn biến nguồn thu được hưởng theo phân cấp:
Năm Thu NSĐP hưởng 100% (Triệu đồng) Thu NSĐP hưởng từ phân chia % (Triệu đồng) Tổng thu NSĐP được hưởng theo phân cấp (Triệu đồng)
2019 41.721.214 52.676.352 94.397.566
2020 47.276.440 51.694.509 98.970.949
2021 41.335.212 61.671.839 103.007.051
2022 33.950.585 57.500.964 91.451.549
2023 45.779.172 53.159.840 98.939.012

(Nguồn: Sở Tài chính thành phố Hà Nội)

  • Tỷ lệ phân chia ngân sách điều tiết về địa phương qua các thời kỳ:
    • Giai đoạn 2011–2015: Hà Nội được hưởng 42%.
    • Giai đoạn 2017–2021: Giảm xuống 35% (theo Nghị quyết số 29/2016/QH14).
    • Giai đoạn 2022–2025: Giảm tiếp xuống 32% (theo Nghị quyết số 40/2021/QH15).
    • So sánh: TP.HCM (23% -> 18% -> 21%), các tỉnh miền núi như Cao Bằng, Bắc Kạn giữ mức 100%. Việc giảm tỷ lệ điều tiết làm giảm nguồn thu phân chia thực tế của Hà Nội từ 61.671 tỷ đồng (năm 2021) xuống 57.500 tỷ đồng (năm 2022) và 53.159 tỷ đồng (năm 2023), gây áp lực lớn lên cân đối chi đầu tư phát triển.
  • Số bổ sung từ ngân sách trung ương cho Hà Nội (2019–2023):
    • Số bổ sung cân đối ngân sách: 0 đồng (Hà Nội tự bảo đảm hoàn toàn cân đối thu - chi thường xuyên).
    • Số bổ sung có mục tiêu: Năm 2019 đạt 2.440.780 triệu đồng; năm 2020 đạt 1.711.779 triệu đồng; năm 2021 đạt 1.908.702 triệu đồng; năm 2022 tăng lên 6.008.720 triệu đồng; năm 2023 đạt 4.538.167 triệu đồng.
  • Tự cân đối ngân sách cấp huyện: Năm 2023 có 9 quận không cần trợ cấp cân đối từ ngân sách thành phố (Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân, Tây Hồ, Cầu Giấy, Hoàng Mai, Long Biên, Nam Từ Liêm). Đối với 5 huyện chuẩn bị lên quận: Đông Anh và Gia Lâm đã triệt để tự cân đối (số bổ sung cân đối năm 2022, 2023 bằng 0), trong khi Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Trì vẫn cần bổ sung cân đối lớn:
Năm Huyện Thanh Trì Huyện Gia Lâm Huyện Đông Anh Huyện Đan Phượng Huyện Hoài Đức
2020 463.904 622.288 820.506 602.960 702.565
2022 506.979 0 0 707.487 650.231
2023 423.191 0 0 738.768 656.589

(Đơn vị: Triệu đồng - Nguồn: Sở Tài chính thành phố Hà Nội)

  • Thực tiễn quản lý nhiệm vụ chi ngân sách Hà Nội (2019–2022):
    • Tổng chi ngân sách địa phương tăng liên tục: từ 152.906.908 triệu đồng (2019) lên 168.231.818 triệu đồng (2020), 196.366.387 triệu đồng (2021) và đạt 218.948.013 triệu đồng (2022).
    • Chi đầu tư phát triển tăng từ 33.000.639 triệu đồng (2019) lên 44.367.937 triệu đồng (2022). Chi thường xuyên tăng từ 46.181.902 triệu đồng (2019) lên 48.177.918 triệu đồng (2022).
    • Chi chuyển nguồn sang năm sau duy trì ở mức rất cao: 73.200.522 triệu đồng (2019), 80.333.512 triệu đồng (2020), 111.809.394 triệu đồng (2021) và 125.992.970 triệu đồng (2022).
    • Bội thu/kết dư ngân sách giảm dần từ 29.560.380 triệu đồng (2019) xuống còn 11.864.872 triệu đồng (2022).

3. Đánh giá chung

  • Kết quả đạt được:
    • Quy định pháp luật phân cấp phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và hệ thống luật chuyên ngành.
    • Phân cấp nguồn thu đã bảo đảm được vai trò chủ đạo của NSTW thông qua việc điều tiết giảm tỷ lệ giữ lại của các đô thị lớn để hỗ trợ các địa phương khó khăn.
    • Cơ chế bổ sung có mục tiêu minh bạch, khắc phục dần tình trạng "xin - cho" và giảm tâm lý ỷ lại vào ngân sách cấp trên.
    • Phân cấp linh hoạt cho cấp xã (bỏ quy định tỷ lệ cứng 70%/50% của Luật NSNN 2002) và tăng quyền chủ động cho HĐND cấp tỉnh trong việc điều phối nguồn thu nội bộ phù hợp thực tế.
  • Hạn chế:
    • Việc giảm tỷ lệ điều tiết của Hà Nội xuống 32% trong khi tổng thu ngân sách trên địa bàn vượt 400 nghìn tỷ đồng (năm 2023) tạo áp lực rất lớn lên việc cân đối vốn cho các công trình hạ tầng trọng điểm.
    • Các nguồn thu phân cấp 100% cho địa phương hưởng chủ yếu có quy mô nhỏ, phân tán.
    • Một số huyện quy hoạch lên quận (Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Trì) khả năng phát triển nguồn thu chưa tương xứng với yêu cầu, vẫn phụ thuộc vào trợ cấp cân đối.
    • Quy mô chi chuyển nguồn sang năm sau còn quá lớn (trên 125 nghìn tỷ đồng năm 2022), phản ánh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và phân bổ dự toán còn điểm nghẽn.

Chương 3: Phương hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách

Chương 3 trình bày các định hướng và đề xuất giải pháp lập pháp nhằm tháo gỡ các vướng mắc từ thực tiễn Hà Nội:

  • Phương hướng hoàn thiện: Bảo đảm sự thống nhất của hệ thống thể chế tài chính công; củng cố vai trò chủ đạo của NSTW đi đôi với việc tăng cường quyền tự chủ tài khóa của chính quyền địa phương; giảm thiểu tính lồng ghép phức tạp của hệ thống ngân sách; hoàn thiện cơ chế phân cấp phù hợp với mô hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn.
  • Giải pháp cụ thể:
    • Hoàn thiện quy định về thẩm quyền ban hành chính sách thu: Nghiên cứu mở rộng thẩm quyền cho HĐND các thành phố trực thuộc trung ương trong việc quyết định thí điểm một số khoản thu phí, lệ phí đặc thù hoặc tỷ lệ điều tiết phù hợp với năng lực quản lý đô thị.
    • Hoàn thiện cơ chế phân định nguồn thu: Xác lập danh mục nguồn thu ổn định, lâu dài cho cấp huyện, cấp xã; phân định rành mạch các khoản thu gắn trực tiếp với công tác quản lý của từng cấp chính quyền nhằm kích thích nuôi dưỡng nguồn thu bền vững.
    • Rà soát, chuẩn hóa nhiệm vụ chi và thẩm quyền quyết định định mức chi: Phân định rõ ràng trách nhiệm chi giữa các cấp chính quyền để tránh chồng chéo; trao quyền chủ động nhiều hơn cho cấp tỉnh trong việc ban hành tiêu chuẩn, chế độ chi đặc thù trên cơ sở tự cân đối ngân sách địa phương.
    • Khắc phục tình trạng chi chuyển nguồn kéo dài: Sửa đổi quy định về quy trình lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách nhằm kiểm soát chặt chẽ các khoản chi chuyển nguồn, nâng cao kỷ luật tài khóa và đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu thực chứng: Khóa luận đã hệ thống hóa bức tranh tài chính - ngân sách của TP Hà Nội giai đoạn 2019–2023 thông qua hệ thống 08 bảng biểu và 01 biểu đồ số liệu chính thức từ Sở Tài chính:
    • Phản ánh rõ tác động của việc hạ tỷ lệ điều tiết ngân sách (từ 42% xuống 35% và 32%) đối với cơ cấu nguồn thu của Thủ đô.
    • Ghi nhận thành công bước đầu của 2 huyện Đông Anh và Gia Lâm trong việc tự cân đối ngân sách sau khi được điều chỉnh phân cấp 32% nguồn thu phân chia từ năm 2022.
    • Chứng minh thực tế Hà Nội hoàn toàn không nhận bổ sung cân đối từ NSTW (0 đồng trong cả 5 năm 2019–2023) mà chỉ nhận bổ sung có mục tiêu phục vụ các nhiệm vụ trọng điểm.
  • Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ luật học, kết hợp phân tích các điều khoản của Luật NSNN năm 2015, Nghị định số 163/2016/NĐ-CP với thực tiễn áp dụng Nghị quyết số 97/2019/QH14 về thí điểm chính quyền đô thị và Đề án phát triển huyện thành quận tại Hà Nội. Đề tài bổ sung luận cứ thực tiễn cho công tác sửa đổi, bổ sung Luật NSNN trong giai đoạn tới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận tập trung chủ yếu vào quan hệ phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa trung ương với địa phương và giữa các cấp của TP Hà Nội; chưa đi sâu phân tích cơ chế phân cấp vay nợ chính quyền địa phương cũng như trách nhiệm chi tiết của các đơn vị dự toán ngân sách.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu đánh giá toàn diện tác động của các cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù khi Luật Thủ đô mới và Luật NSNN sửa đổi được áp dụng; mở rộng đánh giá hiệu quả chi ngân sách theo kết quả đầu ra và kiểm soát nợ công địa phương tại các đô thị loại đặc biệt.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Tài chính, Luật Hành chính, Quản lý công và Kinh tế công. Các phần có giá trị tham khảo cao gồm:

  • Hệ thống dữ liệu thực tế về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của TP Hà Nội giai đoạn 2019–2023 (Chương 2).
  • Khung phân tích pháp lý về cơ chế vận hành ngân sách khi triển khai mô hình chính quyền đô thị và chuyển đổi đơn vị hành chính cấp huyện thành cấp quận.
  • Phương pháp đối chiếu quy định pháp luật thực định với thực tiễn triển khai quản lý tài chính công tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách thành phố Hà Nội thay đổi như thế nào qua các giai đoạn?
Trả lời: Tỷ lệ điều tiết giữ lại cho ngân sách địa phương của Hà Nội giảm dần qua 3 thời kỳ ổn định ngân sách: giai đoạn 2011–2015 là 42%; giai đoạn 2017–2021 giảm xuống 35% (theo Nghị quyết 29/2016/NQ-QH); giai đoạn 2022–2025 tiếp tục giảm xuống còn 32% (theo Nghị quyết 40/2021/QH15).

2. Việc áp dụng mô hình chính quyền đô thị theo Nghị quyết 97/2019/QH14 ảnh hưởng thế nào đến tổ chức ngân sách cấp phường tại Hà Nội?
Trả lời: Từ ngày 01/7/2021, Hà Nội không tổ chức HĐND phường. UBND phường thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị dự toán ngân sách trực thuộc UBND quận/thị xã; toàn bộ các nguồn thu và nhiệm vụ chi trước đây của một cấp ngân sách ở phường được chuyển thành nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách cấp quận, thị xã (theo Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐND).

3. Trong 5 huyện thực hiện đề án lên quận tại Hà Nội, tình hình tự cân đối ngân sách diễn ra như thế nào sau khi được điều chỉnh phân cấp năm 2022?
Trả lời: Sau khi HĐND TP phân cấp điều tiết 32% các khoản thu phân chia với trung ương (giai đoạn 2022–2025), đã có 02 huyện tự bảo đảm cân đối thu - chi (số bổ sung cân đối từ ngân sách thành phố bằng 0 trong các năm 2022, 2023) là Đông Anh và Gia Lâm. 03 huyện còn lại (Thanh Trì, Đan Phượng, Hoài Đức) vẫn nhận số bổ sung cân đối ngân sách ở mức cao (năm 2023: Thanh Trì nhận 423.191 triệu đồng; Đan Phượng nhận 738.768 triệu đồng; Hoài Đức nhận 656.589 triệu đồng).

4. Ngân sách trung ương có thực hiện bổ sung cân đối cho ngân sách thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2019–2023 không?
Trả lời: Không. Trong suốt giai đoạn 2019–2023, số bổ sung cân đối từ NSTW cho TP Hà Nội duy trì ở mức 0 đồng (Hà Nội tự bảo đảm cân đối ngân sách). NSTW chỉ thực hiện bổ sung có mục tiêu cho Hà Nội với giá trị dao động từ 1.711.779 triệu đồng (năm 2020) đến 6.008.720 triệu đồng (năm 2022).

5. Quy định về phân cấp nguồn thu cho ngân sách cấp xã trong Luật NSNN năm 2015 có điểm gì khác biệt cốt lõi so với Luật NSNN năm 2002?
Trả lời: Luật NSNN năm 2002 quy định cứng tỷ lệ phân chia cho cấp xã (tối thiểu 70% đối với một số khoản thu và 50% lệ phí trước bạ nhà đất), dẫn đến tình trạng có xã thừa nguồn thu nhưng có xã không đủ và không thể điều hòa. Luật NSNN năm 2015 đã bãi bỏ tỷ lệ cứng này, trao thẩm quyền cho HĐND cấp tỉnh tự quyết định tỷ lệ phần trăm phân chia cụ thể cho ngân sách cấp xã căn cứ vào điều kiện thực tế của từng địa phương.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Thúy Hằng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước tại Việt Nam theo Luật NSNN năm 2015. Thông qua việc phân tích thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2019–2023, công trình đã làm rõ những thành tựu trong việc duy trì cân đối ngân sách, thực hiện mô hình chính quyền đô thị và phân cấp cho các huyện lên quận, đồng thời chỉ ra áp lực từ việc sụt giảm tỷ lệ điều tiết giữ lại và quy mô chi chuyển nguồn lớn. Các phương hướng và giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp luật phân cấp ngân sách nhà nước trong thời gian tới.