Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu, mạng xã hội đã vượt ra khỏi phạm vi công cụ kết nối, giao tiếp thuần túy để trở thành môi trường kinh doanh và giao dịch thương mại sôi động. Theo số liệu từ Báo cáo tổng quan toàn cầu Digital 2024 do Meltwater và WeAreSocial công bố (tháng 01/2024), số lượng người dùng mạng xã hội trên thế giới đã đạt 5,04 tỷ người (tương đương 62,3% dân số toàn cầu). Tại Việt Nam, tỷ lệ dân số sử dụng mạng xã hội chiếm 73,3% và 46,9% người dùng điện thoại thông minh thực hiện quét mã QR hàng tháng. Nền tảng Facebook ghi nhận hơn 66,2 triệu người dùng Việt Nam vào đầu năm 2023; TikTok có 49,86 triệu người dùng từ 18 tuổi trở lên; Instagram có 10,35 triệu người dùng; cùng với 935 mạng xã hội nội địa đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép hoạt động tính đến tháng 09/2022.

Sự bùng nổ của các hình thức bán hàng trực tuyến, livestream thương mại trên mạng xã hội đặt ra thách thức lớn đối với công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Nhóm chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế chủ yếu là các hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ, vốn có mức độ hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ thuế chưa đồng đều. Khác với mô hình thương mại truyền thống có hóa đơn, chứng từ rõ ràng, các giao dịch trên không gian mạng diễn ra linh hoạt, thường xuyên không xuất hóa đơn điện tử, thanh toán phân tán hoặc sử dụng tài khoản cá nhân, dẫn đến nguy cơ thất thu ngân sách nhà nước và bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế. Xuất phát từ thực trạng trên và yêu cầu triển khai Luật Quản lý thuế năm 2019, tác giả Hà Linh Chi đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Tài chính tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024) với đề tài: "Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội".

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý thuế TNCN đối với giao dịch qua mạng xã hội; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam; từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật, giải pháp kỹ thuật và tuyên truyền.

Để thực hiện mục đích trên, đề tài xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa và xây dựng khung lý thuyết về quản lý thuế TNCN đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội.
  2. Nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam về quản lý thuế TNCN đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội và thực tiễn áp dụng.
  3. Đề xuất kiến nghị và giải pháp cho các vấn đề nghiên cứu, bao gồm giải pháp xã hội và giải pháp pháp lý nhằm cải thiện tình trạng nộp thuế TNCN của các chủ thể thực hiện giao dịch thông qua mạng xã hội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, quy định pháp luật về hoạt động quản lý thuế TNCN phát sinh từ hoạt động kinh doanh của các chủ thể giao dịch qua mạng xã hội và thực tiễn áp dụng các quy định này.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam và thực tiễn các vụ việc, số liệu quản lý thuế trong nước.
  • Phạm vi thời gian: Các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm nghiên cứu và các dự thảo quy định sắp có hiệu lực trong giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý:

  • Cơ sở lý luận nền tảng: Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0.
  • Lý thuyết chuyên ngành: Khái niệm thuế trực thu, tính chất lũy tiến từng phần, nguyên tắc đánh thuế theo nơi cư trú và nguồn phát sinh thu nhập; lý thuyết quản lý rủi ro trong quản trị thuế hiện đại.
  • Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh: Luật Quản lý thuế năm 2019 (Luật số 38/2019/QH14); Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014); Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị định số 72/2013/NĐ-CP; Nghị định số 65/2013/NĐ-CP; Nghị định số 126/2020/NĐ-CP; Nghị định số 125/2020/NĐ-CP; Thông tư số 40/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính.
  • Kế thừa tổng quan nghiên cứu: Tác giả tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu liên quan gồm: Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Mai Dung (2018) về hoàn thiện pháp luật quản lý thuế TNCN; Luận án Tiến sĩ của Phạm Nữ Mai Anh (2019) về quản lý thuế thương mại điện tử; Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Huệ (2017) về kinh nghiệm quốc tế quản lý thuế thương mại điện tử; Khóa luận cử nhân của Trần Thiện Doanh (2022) về quản lý thuế TNCN trên mạng xã hội; cùng các bài nghiên cứu chuyên khảo của ThS. Đào Thị Hạnh (2021), Phạm Hải Quang (2022) và Lê Minh Khiêm (2023).

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm sáng tỏ các khái niệm, đặc điểm lý luận, quy định pháp luật và đánh giá thực tiễn thi hành.
  • Phương pháp so sánh và đối chiếu: Đánh giá sự tương thích giữa quy định pháp luật thực định với đặc thù giao dịch số và yêu cầu quản lý thực tế.
  • Phương pháp thống kê, thu thập tài liệu: Tổng hợp các dữ liệu thực tế, báo cáo ngành thuế và khảo sát tình hình thực thi.

Nguồn dữ liệu: Số liệu và văn bản trích dẫn từ Báo cáo Digital 2024 (Meltwater & WeAreSocial), dữ liệu thị trường của Statista (01/2024), số liệu công bố từ Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng cục Thuế, Cục Thuế TP. Hà Nội, các bài viết trên Tạp chí Tài chính, Tạp chí Công thương và thông tin phản ánh trên các cơ quan báo chí chính thống (Báo Tiền Phong, Báo Thanh Niên, Báo Tuổi Trẻ).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý thuế TNCN trong môi trường kinh doanh số:

  • Đặc trưng của thuế TNCN: Là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của cá nhân, có diện đánh thuế rộng, gắn liền với chính sách an sinh xã hội của quốc gia và áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần nhằm bảo đảm công bằng xã hội.
  • Đặc điểm giao dịch qua mạng xã hội: Căn cứ theo Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, mạng xã hội cung cấp môi trường tương tác đa phương tiện. Giao dịch kinh doanh qua mạng xã hội có 03 đặc điểm cốt lõi: (1) Gắn liền với nền tảng công nghệ số; (2) Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian; (3) Việc kiểm soát giao dịch phức tạp do tính chất ẩn danh và khả năng can thiệp dữ liệu số.
  • Bản chất quản lý thuế TNCN qua mạng xã hội: Là quá trình Nhà nước sử dụng công cụ và phương pháp quản lý để tác động lên các hoạt động kinh doanh trực tuyến nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật. Hoạt động này mang tính nhạy cảm cao, đòi hỏi theo dõi liên tục, linh hoạt thích ứng với các nền tảng phi biên giới và dịch chuyển từ phương pháp mệnh lệnh thuần túy sang quản lý phục vụ, khuyến khích tính tự giác tuân thủ.
  • Vai trò của quản lý thuế: Đóng vai trò then chốt trong kiểm soát thông tin, đánh giá chính xác nguồn thu nhập chịu thuế, chống gian lận thuế, bảo đảm tính công bằng trong phân phối lại thu nhập và duy trì tính minh bạch của thị trường kinh doanh số.
  • Nội dung pháp luật điều chỉnh: Bao gồm các quy phạm xác định chủ thể nộp thuế (dựa trên tiêu chí nơi cư trú và nguồn phát sinh thu nhập); xác định các khoản thu nhập chịu thuế (thu nhập thường xuyên từ kinh doanh và thu nhập không thường xuyên); cùng quy định về các biện pháp, thủ tục hành chính thuế (đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm).

Chương 2: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội

Tác giả phân tích chi tiết thực trạng các quy định pháp luật thực định và thực tiễn thi hành:

1. Thực trạng quy định pháp luật:

  • Quy định về chủ thể và thu nhập chịu thuế: Căn cứ Điều 2, Điều 3 Luật Thuế TNCN năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014), cá nhân cư trú (có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc có nơi ở thường xuyên) chịu thuế đối với thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ; cá nhân không cư trú chịu thuế đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
  • Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế: Luật Quản lý thuế năm 2019 (Điều 16, 17) đã mở rộng quyền của người nộp thuế, cho phép sử dụng chứng từ điện tử, tra cứu dữ liệu cổng thông tin và không bị xử phạt vi phạm hành chính nếu thực hiện theo đúng văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Quản lý thông tin và kỹ thuật quản lý rủi ro: Chương XI Luật Quản lý thuế năm 2019 (Điều 95 đến Điều 100) quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin tổng hợp và áp dụng quản lý rủi ro trên cơ sở phân tích dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
  • Thủ tục kê khai thuế: Quy định 03 phương pháp kê khai theo Thông tư số 40/2021/TT-BTC và Luật Quản lý thuế năm 2019: (1) Phương pháp khoán áp dụng cho hộ khoán nhỏ lẻ; (2) Phương pháp kê khai áp dụng cho hộ, cá nhân kinh doanh quy mô lớn (theo khoản 5 Điều 51 Luật Quản lý thuế 2019); (3) Kê khai theo từng lần phát sinh.
  • Phương thức nộp và thu thuế: Nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước thông qua tài khoản ngân hàng hoặc nộp tiền mặt tại cơ quan thuế (Điều 55 Luật Quản lý thuế 2019). Thuế được thu trực tiếp hoặc khấu trừ tại nguồn theo Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và Điều 28 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP.
  • Thanh tra, kiểm tra và chế tài xử lý: Quy định các trường hợp thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế hoặc trụ sở người nộp thuế (Điều 109, 110, 113, 114 Luật Quản lý thuế 2019). Xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo Nghị định số 125/2020/NĐ-CP (phạt vi phạm thủ tục từ cảnh cáo đến phạt tiền; phạt 20% số tiền thuế khai thiếu; phạt từ 1 đến 3 lần số thuế trốn). Trường hợp nghiêm trọng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế theo Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (phạt tiền từ 100 triệu đến 5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 07 năm).
Nhóm quy định Căn cứ pháp lý Nội dung cơ bản
Xác định chủ thể nộp thuế Điều 2 Luật Thuế TNCN (sửa đổi 2012, 2014) Cá nhân cư trú (>= 183 ngày hoặc có nơi ở thường xuyên) và cá nhân không cư trú có thu nhập kinh doanh tại Việt Nam.
Phương pháp kê khai thuế Thông tư 40/2021/TT-BTC; Khoản 5 Điều 51 Luật Quản lý thuế 2019 03 phương thức: Phương pháp khoán, phương pháp kê khai (đối với quy mô lớn), khai theo từng lần phát sinh.
Cơ chế thu nộp thuế NĐ 126/2020/NĐ-CP; NĐ 65/2013/NĐ-CP; Điều 55 Luật QLT 2019 Nộp trực tiếp qua Kho bạc/ngân hàng; Thu thuế trực tiếp hoặc áp dụng cơ chế khấu trừ tại nguồn.
Xử phạt vi phạm hành chính Nghị định 125/2020/NĐ-CP (Điều 10 - Điều 17) Phạt thủ tục; phạt 20% tiền thuế khai thiếu; phạt 1 đến 3 lần số thuế trốn; buộc khắc phục hậu quả nộp đủ số thuế.
Xử lý trách nhiệm hình sự Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) Tội trốn thuế: Phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 07 năm.

2. Thực tiễn áp dụng và các hành vi vi phạm:

  • Tỷ lệ tuân thủ thấp: Phần lớn cá nhân bán hàng online không thực hiện đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế. Nhiều người nhầm tưởng doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm không phải nộp thuế (Điều 4 Thông tư số 40/2021/TT-BTC) thì không cần đăng ký mã số thuế.
  • Số liệu rà soát thực tế: Tại TP. Hà Nội, giai đoạn 2017–2020, cơ quan thuế đã rà soát và gửi tin nhắn SMS hướng dẫn tới 13.422 chủ tài khoản Facebook kinh doanh, qua đó có hơn 2.000 cá nhân đăng ký mã số thuế; tổng số tiền thuế và phạt truy thu đạt hơn 22,7 tỷ đồng.
  • Các phương thức trốn thuế điển hình được nhận diện:
    1. Thủ thuật chuyển khoản: Chủ kinh doanh yêu cầu khách hàng chuyển khoản ngân hàng không ghi nội dung hàng hóa (không dùng từ "mua", "bán", tên sản phẩm), chỉ ghi tên tài khoản hoặc số điện thoại, nếu khách hàng vi phạm sẽ bị phụ thu 2% đến 10%. Trường hợp tinh vi hơn sử dụng ví điện tử quốc tế hoặc cổng trung gian tài chính chưa được cấp phép tại Việt Nam (như Paypal) để chuyển dòng tiền ra nước ngoài.
    2. Hình thức giao hàng thu tiền hộ (COD): Ủy quyền cho đơn vị chuyển phát thu tiền mặt trực tiếp từ người mua rồi chuyển lại cho người bán, không hạch toán vào tài khoản ngân hàng kinh doanh và không kê khai doanh thu chịu thuế.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội

Chương 3 xây dựng các định hướng và nhóm giải pháp nhằm tháo gỡ bất cập đã chỉ ra ở Chương 2:

  • Định hướng hoàn thiện: Hoàn thiện thể chế pháp lý theo hướng minh bạch, hiện đại; bảo đảm bao quát nguồn thu gắn với quyền tự do kinh doanh và công bằng xã hội; đẩy mạnh cơ chế tự giác tuân thủ dựa trên công nghệ quản lý hiện đại.
  • Giải pháp pháp lý cụ thể:
    • Bổ sung quy định chi tiết về phạm vi, quy trình và chế tài bảo mật thông tin người nộp thuế trong môi trường số (làm rõ khoảng trống tại Chương XI Luật Quản lý thuế 2019).
    • Hoàn thiện quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin và cơ chế phối hợp bắt buộc giữa cơ quan thuế với ngân hàng thương mại, tổ chức trung gian thanh toán và các đơn vị bưu chính, chuyển phát (COD).
    • Rà soát ngưỡng doanh thu tính thuế và cơ chế xác định chi phí hợp lý đối với cá nhân kinh doanh trực tuyến, tránh việc đánh thuế thuần túy trên doanh thu khi thực tế có thể phát sinh chi phí lớn.
    • Tăng cường mức xử phạt hành chính đối với các hành vi cố tình ẩn giấu doanh thu, né tránh nghĩa vụ đăng ký mã số thuế để nâng cao tính răn đe.
  • Giải pháp kỹ thuật và tuyên truyền: Tăng cường đầu tư hệ thống công nghệ thông tin, ứng dụng thuật toán rà soát dữ liệu giao dịch tự động; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến nghĩa vụ đăng ký mã số thuế ngay từ khi khởi sự kinh doanh.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu thực tiễn:

  • Làm rõ quy mô người dùng mạng xã hội tại Việt Nam (hơn 66,2 triệu tài khoản Facebook; 49,86 triệu người dùng TikTok từ 18 tuổi; 935 mạng xã hội nội địa được cấp phép) và chỉ ra khoảng cách giữa quy mô giao dịch thực tế với tỷ lệ đăng ký thuế chính thức.
  • Dẫn chứng kết quả quản lý thuế cụ thể qua vụ việc rà soát tại Cục Thuế TP. Hà Nội giai đoạn 2017–2020: Phát gửi thông báo tới 13.422 tài khoản Facebook, cấp mã số thuế cho hơn 2.000 cá nhân, truy thu thuế và xử phạt hơn 22,7 tỷ đồng.
  • Phân tích và hệ thống hóa 02 nhóm thủ đoạn trốn thuế điển hình trên mạng xã hội hiện nay: (1) Che giấu nội dung thanh toán chuyển khoản và sử dụng kênh trung gian quốc tế chưa cấp phép (Paypal); (2) Sử dụng hình thức giao hàng thu tiền hộ (COD) không kê khai doanh thu.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Đề xuất bổ sung khung pháp lý về bảo mật thông tin người nộp thuế số và chế tài xử lý cơ quan, tổ chức vi phạm nghĩa vụ bảo mật.
  • Kiến nghị hoàn thiện cơ chế chia sẻ dữ liệu liên ngành (Thuế – Ngân hàng – Doanh nghiệp vận chuyển).
  • Đề xuất điều chỉnh chính sách thuế đối với cá nhân kinh doanh trực tuyến nhằm phân định hợp lý giữa doanh thu và chi phí hợp lệ.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Các công trình trước đây tại Việt Nam thường nghiên cứu quản lý thuế TNCN nói chung (Nguyễn Thị Mai Dung, 2018) hoặc quản lý thuế đối với toàn bộ hoạt động thương mại điện tử (Phạm Nữ Mai Anh, 2019; Nguyễn Thị Huệ, 2017). Khóa luận của Hà Linh Chi đi sâu trực tiếp vào phân khúc giao dịch thông qua nền tảng mạng xã hội – một hình thức thương mại phi tập trung có tính chất đặc thù cao – trong khuôn khổ áp dụng đồng bộ Luật Quản lý thuế năm 2019, Nghị định số 125/2020/NĐ-CP, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và Thông tư số 40/2021/TT-BTC.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài tập trung chủ yếu vào các nền tảng mạng xã hội phổ biến (Facebook, TikTok) và sử dụng dữ liệu thực tiễn tại các đô thị lớn (như số liệu tại Hà Nội giai đoạn 2017–2020); nguồn dữ liệu về các giao dịch xuyên biên giới phức tạp qua các ví điện tử quốc tế còn mang tính khái quát do hạn chế trong việc tiếp cận cơ sở dữ liệu chuyên ngành; nhận thức lý luận và thực tiễn của tác giả về lĩnh vực công nghệ số liên ngành còn có những giới hạn nhất định như đã nêu trong văn bản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu cơ chế pháp lý hợp tác quốc tế trong quản lý thuế xuyên biên giới trên nền tảng mạng xã hội; theo dõi và đánh giá tác động của các văn bản pháp luật mới ban hành; xây dựng mô hình tự động kết nối và chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa cơ quan thuế, nền tảng số xuyên biên giới và các tổ chức logistics.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Tài chính, Luật Kinh tế, Quản lý thuế, Tài chính – Ngân hàng; các cá nhân, hộ kinh doanh đang hoạt động thương mại trên các nền tảng số; cùng các cán bộ nghiên cứu, hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Hệ thống hóa toàn diện các căn cứ pháp lý về nghĩa vụ kê khai, nộp thuế TNCN và khung xử lý vi phạm hành chính, hình sự mới nhất.
    • Phân tích chi tiết 03 phương pháp kê khai thuế (khoán, kê khai cho quy mô lớn, từng lần phát sinh) áp dụng cho người bán hàng online.
    • Luận giải các thủ đoạn gian lận thuế thực tế (COD, lách từ khóa chuyển khoản ngân hàng) và các đề xuất hoàn thiện cơ chế phối hợp dữ liệu quản lý.

Câu hỏi thường gặp

1. Cá nhân kinh doanh qua mạng xã hội có doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm có phải đăng ký mã số thuế không? Có. Theo quy định pháp luật được phân tích trong khóa luận, mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống thuộc diện không phải nộp thuế TNCN (theo Điều 4 Thông tư số 40/2021/TT-BTC), nhưng cá nhân khi bắt đầu hoạt động kinh doanh vẫn có nghĩa vụ thực hiện đăng ký thuế với cơ quan thuế để được cấp mã số thuế quản lý theo quy định chung.

2. Người kinh doanh qua mạng xã hội có quy mô lớn bắt buộc phải kê khai thuế theo hình thức nào? Theo quy định tại khoản 5 Điều 51 Luật Quản lý thuế năm 2019, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh có quy mô lớn (về doanh thu, lao động) không áp dụng phương pháp khoán thuế mà bắt buộc phải thực hiện nộp thuế theo phương pháp kê khai nhằm bảo đảm tính minh bạch căn cứ tính thuế.

3. Cơ quan thuế Hà Nội đã ghi nhận kết quả truy thu thuế kinh doanh qua Facebook giai đoạn 2017–2020 như thế nào? Cơ quan thuế TP. Hà Nội đã tiến hành rà soát và gửi tin nhắn SMS hướng dẫn đến 13.422 chủ tài khoản Facebook có hoạt động bán hàng, kết quả có hơn 2.000 cá nhân đã đến đăng ký và được cấp mã số thuế để kê khai, nộp thuế; tổng số tiền thuế và tiền phạt thu nộp vào ngân sách nhà nước đạt hơn 22,7 tỷ đồng.

4. Hành vi trốn thuế TNCN qua mạng xã hội có thể bị xử lý hình sự theo quy định nào? Trường hợp hành vi vi phạm pháp luật thuế có tính chất nghiêm trọng, cấu thành tội phạm theo quy định tại khoản 7 Điều 136 Luật Quản lý thuế năm 2019, người vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trốn thuế theo Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), với khung hình phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 07 năm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Linh Chi đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật quản lý thuế TNCN đối với các giao dịch qua mạng xã hội tại Việt Nam. Công trình chỉ rõ những rào cản trong kiểm soát dòng tiền, dữ liệu giao dịch số và các phương thức trốn thuế phổ biến trong thực tiễn. Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra các kiến nghị hoàn thiện thể chế pháp lý, nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành và ứng dụng công nghệ quản lý rủi ro nhằm tăng cường tính tuân thủ thuế và chống thất thu ngân sách nhà nước.