lời mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 03 chƣơng. 5 Chƣơng 1: Khái quát về hoạt động công nghiệp và pháp luật bảo vệ môi trƣờng trong hoạt động công nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật môi trƣờng trong hoạt động công nghiệp và thực tiễn thi hành tại tỉnh Lào Cai. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật môi trƣờng trong hoạt động công nghiệp từ thực tiễn tỉnh Lào Cai.
CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT MÔI TRƢỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG NGHIỆP 1. Quan niệm về hoạt động công nghiệp và bảo vệ môi trƣờng trong hoạt động công nghiệp 1. Quan niệm về hoạt động công nghiệp và những ảnh hƣởng đến môi trƣờng * Hoạt động công nghiệp Công nghiệp là bộ phận của nền kinh tế, là hoạt động sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm đƣợc chế tạo, chế biến cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, đƣợc sự hỗ trợ, thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về công nghệ, khoa học và kĩ thuật.
Hoạt động công nghiệp rất đa dạng nên hiện có nhiều cách phân loại hoạt động công nghiệp. Căn cứ vào mức độ tập trung vốn và tập trung lao động, hoạt động công nghiệp bao gồm công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ. Căn cứ theo sản phẩm và ngành nghề, hoạt động công nghiệp gồm: công nghiệp khai thác khoáng sản, công nghiệp năng lƣợng, công nghiệp luyện kim, công nghiệp cơ khí, công nghiệp hóa chất, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp điện tử-tin học, công nghiệp chế tạo xe, công nghiệp dệt may, công nghiệp đóng tàu… Nếu phân loại theo cấp quản lí thì hoạt động công nghiệp bao gồm công nghiệp địa phƣơng và công nghiệp trung ƣơng. Tại Việt Nam, theo quy định của Nghị định số 95/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, 6 cơ cấu tổ chức của Bộ Công thƣơng thì Bộ này đƣợc giao cho chức năng quản lý nhà nƣớc về công nghiệp và thƣơng mại, trong đó hoạt động công nghiệp mà bộ này quản lý (có thể hiểu hoạt động công nghiệp hiện nay) bao gồm các ngành và hoạt động sau: cơ khí, luyện kim, điện, năng lƣợng mới, năng lƣợng tái tạo, dầu khí, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp chế biến khác.
Theo báo cáo thực hiện chƣơng trình sản xuất và tiêu dùng bền vững, Bộ Công thƣơng đã khái quát về hoạt động công nghiệp tại Việt Nam giai đoạn hiện nay nhƣ sau: Về sản xuất công nghiệp, mặc dù duy trì tốc độ tăng trƣởng khá ấn tƣợng, tuy nhiên mô hình phát triển vẫn chủ yếu dựa vào sự gia tăng vốn đầu tƣ, mở rộng sản xuất theo chiều rộng mà chƣa đề cao yếu tố về hiệu quả. Cơ cấu ngành công nghiệp trong GDP có chuyển biến nhƣng còn chậm, trong đó, cơ cấu ngành công nghiệp khai khoáng trong GDP có xu hƣớng tăng trong khi ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP giảm, cụ thể: Cơ cấu ngành công nghiệp khai khoáng trong GDP toàn ngành công nghiệp trong giai đoạn 2011-2015 tăng từ 10,3% năm 2011 lên 11,4% năm 2015; Cơ cấu ngành công nghiệp chế biến trong GDP toàn ngành giảm từ 18% năm 2011 xuống 17,8% vào năm 2015. Nhóm sản phẩm công nghiệp chế biến - chế tạo (điện thoại, điện tử, dệt may, giày dép.) chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu, song hầu hết là gia công và lắp ráp, do vậy giá trị gia tăng thấp [11]. Sản phẩm công nghiệp đã đáp ứng phần lớn tiêu dùng trong nƣớc tuy nhiên, khả năng cạnh tranh đối với các sản phẩm nhập khẩu cũng nhƣ trên thị trƣờng thế giới còn hạn chế.
Các sản phẩm thô, gia công chế biến với giá trị gia tăng thấp còn chiếm tỷ trọng lớn. Các doanh nghiệp sản xuất quy mô nhỏ và vừa vẫn chiếm phần lớn với trình độ công nghệ sản xuất tuy đã đƣợc cải thiện nhiều nhƣng vẫn vào loại thấp so với thế giới và khu vực. Tốc độ đổi mới công nghệ còn thấp, không đồng đều và không theo một định hƣớng phát triển rõ rệt. Công nghệ tiên tiến và hiện đại tập trung chủ yếu ở các liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp.
Ý thức trong việc thực thi các yêu cầu và giải pháp nhằm hạn chế tác động tới môi trƣờng từ hoạt động sản xuất của các 7 doanh nghiệp còn nhiều bất cập, gây ra những ảnh hƣởng không nhỏ tới môi trƣờng sinh thái và chất lƣợng cuộc sống của cộng đồng. * Những ảnh hƣởng đến môi trƣờng từ hoạt động công nghiệp Các hoạt động công nghiệp có thể gây những ảnh hƣởng bất lợi cho môi trƣờng. Cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, khi tiến hành hoạt động sản xuất công nghiệp, chúng ta có thể khai thác và sử dụng một cách quá mức, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hoạt động sản xuất công nghiệp là thực hiện việc biến đổi vật chất từ dạng tự nhiên thành dạng vật chất hữu ích đối, đáp ứng đƣợc các nhu cầu sử dụng của con ngƣời và đó là sản phẩm công nghiệp.
Công nghiệp ngày càng phát triển, gắn với nó sự phát triển của công nghệ, nhu cầu ngày càng tăng của con ngƣời dẫn đến nguồn tài nguyên ngày càng bị khai thác và sử dụng quá mức, với tốc độ cạn kiệt ngày càng nhanh. Mà trong quá trình sản xuất công nghiệp đó, những yếu tố đầu vào là tài nguyên thiên nhiên thì các yếu tố đầu ra là chất thải (cả chất thải công nghiệp và chất thải tiêu dùng), khai thác càng nhiều, lƣợng chất thải ra môi trƣờng sẽ càng lớn. Tốc độ khai thác và nhu cầu sử dụng các nguồn tài nguyên trong hoạt động chế biến công nghiệp thƣờng nhanh hơn rất nhiều lần khả năng tái sinh của chúng, nhất là các loại tài nguyên là động, thực vật; điều đó đã làm mất cân bằng hệ sinh thái trên trái đất. Hậu quả của chu trình này là các nguồn tài nguyên bị khai thác và sử dụng quá mức sẽ không thể kịp phục hồi, gây ra những ảnh hƣởng tiêu cực, tác hại nghiêm trọng tới môi trƣờng nhƣ phá vỡ cân bằng sinh thái.
Thứ hai, các hoạt động công nghiệp gây ô nhiễm môi trƣờng sẽ làm suy giảm mạnh chất lƣợng môi trƣờng sống tự nhiên nhƣ nguồn không khí, nguồn nƣớc, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe con ngƣời, tổn thất nặng nề về kinh tế. Các hoạt động công nghiệp gây nên ô nhiễm môi trƣờng do nhiều nguyên nhân, có thể kể đến nhƣ: Một là, phần lớn các tài nguyên khai thác đƣợc, sản xuất công nghiệp chỉ có một phần sẽ trở thành sản phẩm có ích, đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng của con ngƣời, còn một phần còn lại của nó sẽ quay trở lại môi trƣờng tự 8 nhiên dƣới dạng chất thải công nghiệp. Mặt khác, các sản phẩm công nghiệp sau khi đƣợc sử dụng một thời gian nhất định sẽ bị hƣ hỏng và không còn giá trị sử dụng sẽ quay trở lại môi trƣờng tự nhiên dƣới dạng chất thải tiêu thụ. Tùy từng ngành công nghiệp khác nhau sẽ có mức độ gây ô nhiễm và các loại ô nhiễm khác nhau; các ngành công nghiệp nặng thƣờng gây ra mức độ ô nhiễm cao hơn các ngành công nghiệp nhẹ.
Chính việc khai thác và sử dụng tài nguyên chƣa hợp lý, thậm chí là khai thác bừa bãi; bên cạnh đó là sự phân bố tổ chức sản xuất công nghiệp chƣa hợp lý giữa các khu vực, vùng miền, vị trí địa lý, dẫn đến tình trạng có nơi đƣợc tập trung đầu tƣ quá mức vào phát triển các khu công nghiệp đã là gia tăng nồng độ chất thải dẫn đến gây ô nhiễm rộng lớn ở nhiều vùng. Trong khi đó, về mặt kinh tế, để tiết kiệm tối đa chi phí, tăng lợi nhuận, tận dụng hiệu quả các nguồn lực thì cần bố trí, phân bổ các hoạt động công nghiệp gần các vùng nguyên liệu, thị trƣờng tiêu thụ, thì ngƣợc lại để đáp ứng đƣợc các yêu cầu về bảo vệ môi trƣờng đòi hỏi các hoạt động công nghiệp phải đƣợc bố trí hợp lý, cách xa vùng tập trung dân cƣ và nguồn nguyên liệu để tránh các nguồn chất thải công nghiệp đƣợc tập trung quá mức gây độc hại đến môi trƣờng sống con ngƣời. Hai là, việc còn sử dụng các công nghệ lạc hậu trong quá trình sản xuất, chậm hoặc không chịu, không có khả năng đầu tƣ áp dụng các công nghệ tiên tiến, công nghệ thân thiện với môi trƣờng là nguyên nhân cơ bản và quan trọng nhất dẫn đến ô nhiễm môi trƣờng tăng lên nhanh chóng. Ba là, do trình độ công nghệ, khả năng về nguồn lực nên việc triển khai ứng dụng các công nghệ về khai thác và xử lý chất thải công nghiệp còn nhiều khó khăn và hạn chế.
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp sản xuất công nghiệp vì nhu cầu lợi nhuận trƣớc mắt nên chƣa có sự quan tâm đúng mức đến ván đề xử lý chất thải công nghiệp. Tóm lại, trong hoạt động công nghiệp vấn đề ô nhiễm môi trƣờng đã và đang trở thành vấn đề cấp bách không những ở nƣớc ta mà là vấn đề chung của toàn cầu, không phải của riêng quốc gia nào. Quan niệm về bảo vệ môi trƣờng trong hoạt động công nghiệp Quan điểm của học thuyết Mác – Lê Nin về nhà nƣớc và pháp luật đã giải thích một cách khoa học về bản chất của pháp luật và những mối quan hệ 9 của nó với các hiện trạng khác trong xã hội có giai cấp. Pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trƣờng, chính con ngƣời trong quá trình khai thác các thành tố môi trƣờng đã làm mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trƣờng.
Do đó, pháp luật với tƣ cách là hệ thống quy phạm điều chỉnh cách xử sự của con ngƣời sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trƣờng [17]. Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật bảo vệ môi trƣờng 2014 thì hoạt động bảo vệ môi trƣờng đƣợc hiểu là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trƣờng; ứng phó sự cố môi trƣờng; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trƣờng; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trƣờng trong lành [21].