Luận văn thạc sĩ về pháp luật doanh nghiệp xã hội tại Đại học Kinh tế TP.HCM

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu pháp luật về doanh nghiệp xã hội, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2017

96
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI

1.1. Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội

1.1.1. Khái niệm về Doanh nghiệp xã hội

1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội

1.1.3. Sự cần thiết phải thành lập và điều chỉnh bằng pháp luật đối với loại hình Doanh nghiệp xã hội

1.2. Các quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội

1.2.1. Thành lập Doanh nghiệp xã hội

1.2.2. Chuyển đổi thành Doanh nghiệp xã hội

1.2.3. Chuyển từ Doanh nghiệp xã hội sang loại hình doanh nghiệp khác

1.2.4. Huy động vốn của Doanh nghiệp xã hội

1.2.5. Sử dụng vốn

1.2.6. Mua lại, chuyển nhượng và giảm vốn

1.2.7. Phân phối lợi nhuận

1.2.8. Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp xã hội

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ CÁC KIẾN NGHỊ CẢI CÁCH PHÁP LUẬT ĐỂ THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM

2.1. Quá trình hình thành và phát triển Doanh nghiệp xã hội trên thế giới và tại Việt Nam

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Doanh nghiệp xã hội trên thế giới

2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp xã hội

2.2.1. Môi trường chính trị và pháp lý

2.2.2. Môi trường xã hội và văn hóa

2.2.3. Môi trường thể chế

2.3. Thực trạng và khó khăn của Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam

2.4. Một số chính sách pháp luật quốc tế trong việc hỗ trợ, khuyến khích sự phát triển doanh nghiệp xã hội

2.4.1. Chính sách pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp xã hội tại nước Anh

2.4.2. Chính sách pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp xã hội tại Thái Lan

2.4.3. Chính sách pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp xã hội tại Hàn Quốc

2.5. Các kiến nghị pháp luật khuyến khích hỗ trợ các Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam

2.5.1. Cụ thể hóa bằng các quy định của pháp luật liên quan đến ưu đãi về vốn đầu tư cho doanh nghiệp xã hội

2.5.2. Xây dựng quy chế kiểm soát tài chính riêng dành cho doanh nghiệp xã hội

2.5.3. Quy định cụ thể về chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp xã hội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 01 – THỦ TỤC, ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP QUỸ XÃ HỘI, QUỸ TỪ THIỆN

PHỤ LỤC 02 - KHẢO SÁT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM

PHỤ LỤC 03 - CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI, DOANH NGHIỆP XÃ HỘI THAM KHẢO TRONG BÀI VIẾT

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam

Pháp luật doanh nghiệp xã hội là một lĩnh vực đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Khái niệm doanh nghiệp xã hội được quy định lần đầu tiên trong Luật Doanh Nghiệp 2014. Doanh nghiệp xã hội không chỉ đơn thuần là một hình thức kinh doanh mà còn mang trong mình sứ mệnh xã hội, nhằm giải quyết các vấn đề xã hội như giảm nghèo, tạo việc làm cho người khuyết tật và các nhóm yếu thế khác. Tuy nhiên, sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc áp dụng các quy định pháp lý hiện hành.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội được định nghĩa là doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu chính là tạo ra lợi ích xã hội, bên cạnh việc tạo ra lợi nhuận. Đặc điểm nổi bật của doanh nghiệp xã hội là sự kết hợp giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội, giúp giải quyết các vấn đề như việc làm, giáo dục và sức khỏe cho cộng đồng.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội đã xuất hiện từ lâu trên thế giới, nhưng tại Việt Nam, khái niệm này chỉ được chính thức công nhận từ năm 2014. Sự phát triển của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam còn chậm so với tiềm năng, do nhiều yếu tố như thiếu chính sách hỗ trợ và nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của doanh nghiệp xã hội.

II. Những thách thức trong pháp luật doanh nghiệp xã hội

Mặc dù pháp luật doanh nghiệp xã hội đã được ban hành, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực thi và áp dụng. Các quy định pháp lý hiện tại chưa đủ mạnh để khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp xã hội. Nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn và các chính sách ưu đãi.

2.1. Thiếu chính sách hỗ trợ cụ thể

Nhiều doanh nghiệp xã hội gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn đầu tư do thiếu các chính sách hỗ trợ cụ thể từ nhà nước. Điều này dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp không thể phát triển bền vững.

2.2. Nhận thức chưa đầy đủ về doanh nghiệp xã hội

Nhận thức của cộng đồng và các nhà đầu tư về doanh nghiệp xã hội còn hạn chế. Nhiều người vẫn chưa hiểu rõ về vai trò và lợi ích của doanh nghiệp xã hội trong việc giải quyết các vấn đề xã hội.

III. Phương pháp cải cách pháp luật doanh nghiệp xã hội

Để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp xã hội, cần có những cải cách pháp luật mạnh mẽ. Các quy định cần được cụ thể hóa và điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp xã hội.

3.1. Cụ thể hóa các quy định pháp lý

Cần có các quy định pháp lý cụ thể hơn về quy trình thành lập, quản lý và hoạt động của doanh nghiệp xã hội. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc thực hiện các hoạt động của mình.

3.2. Tăng cường chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp xã hội

Nhà nước cần xây dựng các chính sách ưu đãi về thuế, vay vốn và hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp xã hội. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển và mở rộng quy mô hoạt động.

IV. Ứng dụng thực tiễn của doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội đã chứng minh được vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội tại Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp đã thành công trong việc tạo ra việc làm và cung cấp dịch vụ cho các nhóm yếu thế trong xã hội.

4.1. Các mô hình doanh nghiệp xã hội thành công

Nhiều mô hình doanh nghiệp xã hội đã thành công trong việc tạo ra việc làm cho người khuyết tật và các nhóm yếu thế khác. Những mô hình này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.

4.2. Tác động của doanh nghiệp xã hội đến cộng đồng

Doanh nghiệp xã hội đã tạo ra những tác động tích cực đến cộng đồng, từ việc cung cấp dịch vụ thiết yếu đến việc nâng cao nhận thức về các vấn đề xã hội. Sự hiện diện của doanh nghiệp xã hội đã góp phần làm cho xã hội trở nên công bằng và nhân văn hơn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của doanh nghiệp xã hội

Pháp luật doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Với những cải cách cần thiết, doanh nghiệp xã hội có thể phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội và thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

5.1. Triển vọng phát triển doanh nghiệp xã hội

Với sự hỗ trợ từ chính phủ và cộng đồng, doanh nghiệp xã hội có thể phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn cho toàn xã hội.

5.2. Vai trò của doanh nghiệp xã hội trong phát triển bền vững

Doanh nghiệp xã hội sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển bền vững, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Sự phát triển của doanh nghiệp xã hội sẽ góp phần tạo ra một xã hội công bằng và nhân văn hơn.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ pháp luật về doanh nghiệp xã hội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 1.1 Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội 1.1 Khái niệm về Doanh nghiệp xã hội Trong từ điển “Business dictionnary” định nghĩa rằng : Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh phi lợi nhuận, sử dụng con người và lợi nhuận thu được để giúp đỡ các vấn đề xã hội hay môi trường. Chẳng hạn, một doanh nghiệp xã hội có thể cung cấp các dịch vụ có giá trị cho nhu cầu của một số cộng đồng dân cư, họ có thể thực hiện tình nguyện các công việc tư vấn hoặc thậm chí trả tiền cho các dự án làm sạch môi trường.2 Có nhiều khái niệm về doanh nghiệp xã hội nhưng không có định nghĩa thống nhất về doanh nghiệp xã hội. Tùy điều kiện lịch sử, kinh tế xã hội khác nhau và góc nhìn khác nhau mà các quốc gia có cách định nghĩa khách nhau. Nhưng tựu chung lại, doanh nghiệp xã hội là những doanh nghiệp thực hiện mục tiêu tối cao là giải quyết các vấn đề xã hội hay bảo vệ môi trường thông qua hoạt động kinh doanh như một doanh nghiệp.

Doanh nghiệp xã hội có thể có các hình thức pháp lý khác nhau tùy theo quy định pháp luật của từng quốc gia như : tổ chức phi chính phủ (NGO), tổ chức từ thiện, hay các doanh nghiệp. Doanh nghiệp xã hội là loại hình doanh nghiệp đã phát triển lâu đời trên thế giới, đặc biệt tại Vương Quốc Anh. Tuy nhiên, khái niệm “doanh nghiệp xã hội” lại khá mới mẻ ở Việt Nam, và mới chỉ được quan tâm, nhắc đến trong vòng vài năm trở lại đây. Pháp luật Việt Nam lần đầu tiên quy định về loại hình doanh nghiệp xã hội trong Luật doanh nghiệp 2014.

Tiêu chí xác định doanh nghiệp xã hội bao gồm: - Được thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014; - Có mục tiêu hoạt động là giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường và vì lợi ích cộng đồng; 2 “Social enterprise”, Businessdictionary.com TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 - Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.3 Trong Chiến lược phát triển doanh nghiệp xã hội năm 2002, Chính phủ Anh định nghĩa4: “Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Cách định nghĩa này bám sát vào những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp xã hội. Theo đó, việc kinh doanh (business) được hiểu như một mô hình, phương án, giải pháp để giải quyết các vấn đề xã hội mà doanh nghiệp cam kết theo đuổi thông qua hoạt động kinh doanh, chứ không phải việc ràng buộc doanh nghiệp xã hội vào một hình thức công ty cứng nhắc. Mục tiêu xã hội là sứ mệnh cơ bản và tiên quyết của việc thành lập doanh nghiệp.

Thêm vào đó, nguyên tắc chung của các doanh nghiệp này là lợi nhuận được tái đầu tư lại cho tổ chức hoặc cộng đồng. Theo cách định nghĩa của Chính phủ Anh, doanh nghiệp xã hội có thể là một tổ chức được thành lập dưới hình thức công ty hoặc một nhóm doanh nghiệp không phải là công ty. Theo đó, một doanh nghiệp xã hội có thể thành lập dưới hình thức “Unincoporated form” do một thương nhân, hoặc một nhóm thương nhân đơn lẻ hợp thành. Trường hợp này doanh nghiệp xã hội không được coi là công ty, không có sự tồn tại độc lập về mặt pháp lý với thương nhân hoặc các thương nhân thành lập nó; và không phải đăng ký kinh doanh.

Mặc dù hoạt động kinh doanh hướng tới mục tiêu xã hội nhưng lợi nhuận của doanh nghiệp xã hội do các thương nhân đơn lẻ làm chủ sẽ bị đánh thuế thu nhập cá nhân, có xem xét giảm trừ, doanh nghiệp xã hội tại Anh cũng có thể thành lập doanh nghiệp xã hội theo hình thức công ty theo Luật Công Ty của Anh hoặc thành lập dưới hình thức Hợp Tác Xã và Hiệp Hội vì lợi ích cộng đồng hoặc các tổ chức từ thiện. Tổ chức OECD định nghĩa5: 3 Điều 10, Luật Doanh Nghiệp 2014 4 Báo cáo nghiên cứu Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, khái niệm, bối cảnh và chính sách,trang 4 5 Báo cáo nghiên cứu Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, khái niệm, bối cảnh và chính sách, trang 5 Thông tin về OECD : Phụ Lục 03- Hộp sô 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 “Doanh nghiệp xã hội là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuỗi cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế. doanh nghiệp xã hội thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn. Ngòai ra, doanh nghiệp xã hội còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường.” Tại Mỹ Khái niệm về doanh nghiệp xã hội nói chung rộng hơn nhiều nơi khác.

Trong giới học thuật Mỹ, doanh nghiệp xã hội được hiểu là bao gồm những tổ chức, các doanh nghiệp theo định hướng vì lợi nhuận và tham gia vào các hoạt động công ích xã hội (tổ chức từ thiện của công ty hoặc trách nhiệm xã hội doanh nghiệp). Các doanh nghiệp hai mục tiêu đó (mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu xã hội) làm trung gian với nhiệm vụ hỗ trợ (mục đích xã hội) cho các tổ chức phi lợi nhuận tham gia vào hoạt động thương mại. Đối với tổ chức chỉ bao gồm mục đích xã hội, nhiệm vụ hỗ trợ các hoạt động thương mại có thể chỉ bao gồm hỗ trợ việc tạo ra doanh thu từ các chương trình phi lợi nhuận hoặc các hoạt động đồng thời tạo ra doanh thu và cung cấp chương trình đáp ứng các mục tiêu nhiệm vụ xã hội.6 Trong phạm vi bài nghiên cứu này, chủ yếu xem xét doanh nghiệp xã hội dưới góc độ là một doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức một công ty theo góc nhín của Luật Doanh nghiệp 2014.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội Doanh nghiệp xã hội có các đặc điểm đặc thù và khác biệt cơ bản so với các đặc điểm của các doanh nghiệp thông thường, tổ chức phi lợi nhuận khác. Doanh nghiệp xã hội trước tiên phải là một doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh như một doanh nghiệp thông thường.

Phần lớn thu nhập của doanh nghiệp xã hội là thông qua hoạt động kinh doanh của mình. Đây là đặc điểm khác biệt của doanh nghiệp xã hội với các tổ chức từ thiện xã hội khác. Doanh nghiệp xã hội thông qua hoạt động kinh doanh của chính mình để giải quyết các vấn đề xã hội và dành phần lớn lợi nhuận thu được để tái phân bổ cho các hoạt động, mục tiêu xã hội đã cam kết. Cũng 6 Janelle A.

Kerlin, 2006, “Social Enterprise in the United States and Europe: Understanding and Learning from the Differences”,2. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 chính đặc điểm này, doanh nghiệp xã hội ở một góc độ khác được nhìn nhận như là một doanh nghiệp thông thường, đăng ký hoạt động như các loại hình doanh nghiệp khác và tuân thủ các quy định về quản lý doanh nghiệp như các doanh nghiệp thông thường khác. Doanh nghiệp xã hội cũng chịu sự chi phối của thị trường đối với các “sản phẩm” đầu ra của mình và chịu sự cạnh tranh như những doanh nghiệp thông thường khác, hoạt động kinh doanh có lỗ hoặc lợi nhuận như doanh nghiệp thông thường khác. Điều này hoàn toàn khác với các tổ chức từ thiện thông qua các nguồn tài trợ, các quỹ, hoặc kêu gọi lòng hảo tâm của nhiều cá nhân tổ chức khác để thực hiện công việc xã hội của mình.

Thông thường các doanh nghiệp xã hội phải tạo ra phần lớn hơn 50% doanh thu của họ để bù đắp chi phí hoạt động bên cạnh các nguồn thu khác ( nhận tài trợ). Tuy nhiên, đối với một số doanh nghiệp xã hội mới thành lập, tỷ lệ này có thể thấp hơn và DN phải sử dụng nguồn vốn sẵn có để bù đắp cho các hoạt động của mình. Doanh nghiệp xã hội phải có mục tiêu, sứ mệnh xã hội rõ ràng, được đặt lên hàng đầu, là tôn chỉ, mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp đó. Mục tiêu xã hội này phải được thể hiện rõ ràng, công khai, minh bạch trong tài liệu quản lý của doanh nghiệp ngay từ khi đăng ký thành lập.

Đặc điểm này làm cho doanh nghiệp xã hội khác biệt với những loại hình doanh nghiệp thông thường khác. Điều đó có nghĩa là, nếu như một doanh nghiệp thông thường, xuất phát từ nhu cầu của xã hội để tạo ra sản phẩm kinh doanh và thu về lợi nhuận, trái lại, doanh nghiệp xã hội xuất phát từ nhu cầu và các vấn đề xã hội để tạo lập mô hình kinh doanh và giải quyết chính nhu cầu xã hội đó. Doanh nghiệp xã hội phải nhận thức một cách rõ ràng về sứ mệnh xã hội của họ và luôn luôn cố gắng để tìm cách thực hiện, giải quyết và tạo ra các giài pháp bền vững, lâu dài cho các vấn đề xã hội. Một đặc điểm khác biệt nữa giữa doanh nghiệp xã hội và doanh nghiệp thông thường nữa đó là, doanh nghiệp xã hội tái đầu tư phần lớn lợi nhuận thu được cho hoạt động vì cộng đồng của mình.

Tỷ lệ tái đầu tư tối thiểu bắt buộc tùy thuộc vào pháp luật của địa phương nơi doanh nghiệp xã hội đăng ký thành lập và hoạt động. Theo quy định của Luật Doanh Nghiệp 2014 của Việt Nam thì tỷ lệ này là 51%. Việc tái đầu tư lợi nhuận không đồng nghĩa với việc tạo ra giá trị xã hội và doanh nghiệp còn có nhiều TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 cách khác để gia tăng nguồn vốn hoạt động. Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế, quy định về tỷ lệ tái đầu tư trở lại lợi nhuận cho hoạt động của tổ chức hoặc cộng đồng là đặc điểm nhằm phân định mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp là vì lợi nhuận ( tối đa hóa giá trị cho các chủ sở hữu , cổ đông) hay vì cộng đồng.

Doanh nghiệp xã hội được sở hữu và kiểm soát mang tính xã hội. Cấu trúc sở hữu (vốn góp) và quản lý của doanh nghiệp xã hội có sự tham gia của các tổ chức cộng đồng, các tổ chức và cá nhân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ