Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIÊP ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIẾU SỐ VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT Ở, ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Cơ sở lý luận về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào các DTTS 1. Tổng quát chung về đồng bào DTTS và cơ chế đặc thù của pháp luật do Nhà nước ban hành về đất ở, đất SXNN đối với đồng bào DTTS Đồng bào các DTTS là những người dân sinh sống tại đất nước Việt Nam, thuộc thành phần dân tộc có số dân ít người, chiếm tỷ lệ tương đối thấp và thấp so với dân số của cả nước. Phần lớn, họ đều sinh sống ở vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng biên giới hải đảo, có ngôn ngữ riêng, có phong tục tập quán riêng của dân tộc mình.
Nước ta có 53 dân tộc thiểu số, đến thời điểm hiện nay dân số của một số dân tộc ngày càng phát triển và tăng lên đáng kể như dân tộc Tày, Thái, Mường… về cơ bản họ có trình độ văn hóa, kinh tế phát triển tương đối mạnh, họ không sinh sống theo khu vực, cụm, bản mà sinh sống tản ra, hoà nhập với dân tộc Kinh là dân tộc đa số. Mỗi dân tộc thiểu số đều có bản sắc riêng về truyền thống, văn hóa, trang phục, chữ viết, tiếng nói, các ngày lễ quan trọng, truyền thống trong sản xuất chăn nuôi trồng trọt được hình thành và tạo dựng lên bởi quan điểm, quan niệm từ lịch sử cha ông của các DTTS để lại, tạo sự phong phú, đa dạng các sắc tộc trên đất nước Việt Nam. Về đất đai, nước ta có 3 loại đất chính: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng, mỗi loại đất đều được chia thành nhiều loại đất khác nhau. Khu vực, địa bàn sinh sống của đồng bào DTTS cơ bản đều ở những nơi riêng biệt, địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn, đất đai chủ yếu là đất Lâm nghiệp tại các vùng núi sâu phù hợp phát triển được các ngành nông lâm, ngư nghiệp; còn đất ở, đất sản xuất nông nghiệp hầu như rất ít; đời sống đồng bào DTTS luôn thiếu đất ở để phục vụ cho sự an cư và thiếu đất SXNN có chất lượng tốt để tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế.
Vì vậy, nhằm giúp cho đồng bào DTTS là người dân của quốc gia mình đang sinh sống tại các vùng kinh tế khó khăn có điều kiện sinh sống tốt hơn, tham gia sản xuất nông nghiệp, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lựa chọn 15 giao 2 loại đất là đất ở, đất SXNN cho đồng bào để đồng bào ổn định đời sống, tăng gia lao động sản xuất, góp phần bảo vệ và phát triển rừng, phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống, tạo sự bình đẳng và phát triển đồng đều với dân tộc đa số. Các loại đất khác thuộc về nhóm đất phi nông nghiệp và đất nhóm đất chưa sử dụng là nhóm đất phục vụ để xây dựng trụ sở cơ quan, các công trình, phục vụ quốc phòng, an ninh; phục vụ sản xuất và kinh doanh phi nông nghiệp, công cộng; xây dựng các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; đất trên các sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng… và nhóm đất là quỹ đất của Nhà nước chưa được sử dụng và chưa xác định mục đích sử dụng đất thì Nhà nước sẽ không tiến hành giao cho đồng bào DTTS vì không phù hợp với mục đích sử dụng đất của các chủ thể là người DTTS. Khái niệm, đặc điểm về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào các dân tộc thiểu số 1. Khái niệm Thứ nhất, khái niệm đất ở Đất đai là một thể diện tích rộng lớn được phân bổ theo vùng miền, theo từng quốc gia; bao gồm nhiều chất hỗn hợp, duy trì và sinh tồn theo các quy luật sống trên bề mặt trái đất; là 1 bộ phận, khu vực tồn tại trên bề mặt trái đất đóng vai trò quan trọng và rộng lớn của địa quyền để con người sản xuất ra lương thực thực phẩm, định cư sinh sống và sử dụng trên bề mặt trái đất ở quá khứ, hiện tại để lại (Hội nghị Quốc tế về Môi trường, Rio De Janero, 2013).
Trên lãnh thổ Việt Nam, đất đai được chia thành 3 loại đất chính theo các tiêu chí khác nhau: đất ở, đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp. Thông tư số 27/2018/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên môi trường định nghĩa: Đất ở là đất để con người tiến hành xây dựng nhà ở nhằm phục vụ cho đời sống, sinh hoạt của mình; diện tích đất mà con người sử dụng làm vườn, là đát ao gắn liền với nhà ở trong cùng một khuôn viên, thuộc nhà riêng, khu dân cư được Nhà nước công nhận là đất ở; “Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị” (Điểm a, khoản 2, Điều 8, Thông tư số 27/2018/TT-BTNMT). Đất ở tại nông thôn là khu vực đất ở thuộc phạm vi địa giới hành chính đã được Nhà nước công nhận do UBND cấp xã quản lý. Đất ở tại đô thị là khu vực đất thuộc phạm vi địa giới hành chính đã được 16 Nhà nước công nhận do UBND cấp phường, thị trấn và cấp xã quản lý (đối với cấp xã quản lý là các khu vực đất ở được đô thị mới theo quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đưa vào diện khu vực phát triển về đất ở của xã trên địa bàn các quận, thành phố, thị xã nhưng đến thời điểm triển khai việc thống kê, kiểm kê đất ở vẫn do cấp xã quản lý).
Theo khoản 1 Điều 144 Luật Đất đai năm 2013 định nghĩa: Đất ở tại các khu đô thị bao gồm các diện tích đất để con người tiến hành xây dựng nhà ở, tiến hành xây dựng các công trình phục vụ đời sống, sinh hoạt của con người; các diện tích đất của vườn, ao cùng trong một thửa đất thuộc khu dân cư đô thị, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Theo Bộ Xây dựng, Quy định pháp luật về đất hỗn hợp tại Thông tư số 01/2021/TT-BXD ngày 19/5/2021 ban hành QCVN 01:2021/BXD quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng thì diện tích đất được sử dụng hỗn hợp là diện tích đất được con người dùng để tiến hành xây dựng nhà, xây dựng các công trình hỗn hợp hoặc được con người sử dụng vào các mục đích khác nhau nhưng khoảng diện tích đất này đã được xác định trong đồ án quy hoạch. Theo âm Hán – Việt hoặc theo cách hiểu phổ biến củ người dân hiện nay, đất ở được hiểu là “đất thổ cư” là loại đất do hộ gia đình hoặc cá nhân sử dụng để xây dựng nhà ở, các công trình phục vụ đời sống sinh hoạt dân cư; đất vườn, ao và nhà ở trên cùng một thửa đất thuộc khu dân cư có thời hạn sử dụng đảm bảo lâu dài; là loại đất có giá trị nhất trong các loại đất và được Nhà nước công nhận là đất ở. Tại Điểm d, Khoản 1, Điều 57, Luật đất đai thì đất ở là loại đất có thể được chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất ở và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định cho phép theo vị trí quy hoạch là đất ở trong khu vực đô thị và đất ở vùng nông thôn.
Từ các nhận định và phân tích trên, Luận văn có thể đưa ra khái niệm: Đất ở là diện tích đất phục vụ cho mục đích của con người, được sử dụng trong việc xây dựng các công trình về nhà ở nhằm phục vụ đời sống, sinh hoạt thiết yếu của người dân gồm vườn, ao, chuồng, trại, nhà ở trên cùng một thửa đất thuộc khu dân cư đã được Nhà nước quy hoạch, ban hành tại các văn bản có hiệu lực ở thời điểm hiện tại được gọi là đất ở. 17 Thứ hai, khái niệm đất sản xuất nông nghiệp Ngược lại với đất ở, đất sản xuất nông nghiệp hay còn gọi là đất nông nghiệp được Luật Đất đai năm 2013 quy định tại Điều 3: Đất nông nghiệp là một diện tích đất tổng thể bao gồm các loại đất được xác định là khu đất được Nhà nước giao cho người dân sử dụng vào mục đích làm tư liệu sản xuất chủ yếu, phục vụ trồng trọt, chăn nuôi, thu hoạch, gieo trồng, trồng rừng và nghiên cứu các công trình tiến bộ khoa học kỹ thuật, cung ứng các sản phẩm cho ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Đất nông nghiệp được hiểu là diện tích đất được dùng để SXNN và phục vụ dịch vụ nông nghiệp trong tổng diện tích đất tự nhiên của quốc gia. Theo tiêu chuẩn FAO – Tổ chức Nông lương của Liên Hiệp Quốc, đất nông nghiệp bao gồm loại đất được canh tác, trồng cây hàng năm, loại đất được sử dụng trong nông nghiệp nhưng đang bị bỏ hoang, đất trồng cây ăn trái, trồng cây lâu năm, cánh đồng, thửa ruộng, đồng cỏ tự nhiên… phục vụ trồng trọt, chăn nuôi, thả gia súc [37].
Theo điều 10 của Luật đất đai năm 2013 quy định Đất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hàng năm, lâu năm, trồng lúa, trồng rừng (rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng); nuôi trồng thủy sản; làm muối và các loại đất khác được con người sử dụng vào mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm hoặc dùng để tiến hành xây dựng nhà kính, các loại nhà, lán, trại phục vụ cho trồng trọt bằng hình thức không trực tiếp hoặc trực tiếp trên đất… được Nhà nước cho phép tại các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm thi hành và thực hiện. Như vậy có thể thấy, đất nông nghiệp là loại đất được con người sử dụng làm tư liệu để SXNN, là tài liệu lao động kiêm đối tượng lao động để sản xuất ra các sản phẩm phục vụ cho ngành nông – lâm nghiệp và không thể thay thế được trong ngành nông – lâm nghiệp. Từ kết quả phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về đất sản xuất nông nghiệp như sau: Đất sản xuất nông nghiệp là diện tích đất tổng hợp các loại đất được sử dụng vào mục đích sản xuất, canh tác, phát triển nông nghiệp và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc xây dựng các công trình, dự án phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.