CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI LÝ THUẾ, ĐẠI LÝ HẢI QUAN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI LÝ THUẾ, ĐẠI LÝ HẢI QUAN 1. Những vấn đề cơ bản về đại lý thuế, đại lý hải quan 1. Khái niệm đại lý thuế và đại lý hải quan Theo từ điển Tiếng Việt1, “đại lý” là tổ chức thương nghiệp đại diện cho một công ty, đảm nhiệm việc giao dịch và giải quyết các công việc cụ thể. Mặt khác, thuật ngữ “đại lý” được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế như một hành vi thương mại trong đó bên giao đại lý (thường là công ty hoặc hãng bán sản phẩm hoặc dịch vụ) và bên đại lý thỏa thuận.
Bên đại lý sẽ đưa ra cam kết rằng bên đại lý sẽ nhân danh để mua bán hàng hóa và hưởng thù lao. Tiếp cận dưới góc độ pháp lý, Đại lý thương mại là “hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao” (đ. Như vậy có thể hiểu đại lý có những đặc trưng sau: Một là, đại lý là tổ chức hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh Hai là, khi tham gia vào quan hệ thương mại, Đại lý nhân danh chính mình để thực hiện hoạt động kinh doanh. Ba là, đại lý nhận hàng hóa để mua hoặc bán, hay được bên giao đại lý ủy quyền cung ứng dịch vụ.
Đại lý Thuế và Đại lý Hải quan hiện nay cũng là một mô hình đại lý với trọng tâm cung ứng chuỗi dịch vụ liên quan tới Thuế (bao gồm: tư vấn thuế, làm thủ tục thuế, làm thủ tục hải quan, nộp thuế…). Hai mô hình đại lý này cũng có những điểm đặc thù nhất định, chúng ta cùng xem xét dưới đây. Đại lý Thuế 1 Viện ngôn ngữ học, “Từ điển tiếng Việt, chủ biên Hoàng Phê, Nhà xuất bản Hồng Đức (2018) 8 Nền kinh tế thị trường phát triển với sự chuyên môn hóa cao, các hình thức dịch vụ càng đa dạng và phong phú. Pháp luật thuế quy định, đối tượng nộp thuế thay vì phải tự mình thực hiện các thủ tục kê khai thuế, nộp thuế… có thể thuê các tổ chức dịch vụ chuyên làm thủ tục về thuế thực hiện.
Đại lý Thuế là tổ chức dịch vụ chuyên thực hiện thủ tục thuế thay cho những người nộp thuế khi được ủy quyền. Mô hình tối ưu này từ lâu đã được nhiều quốc gia lựa chọn phục vụ cho yêu cầu quản lý thuế, hỗ trợ các đối tượng nộp thuế trong việc thực hiện những quy định chặt chẽ, khắt khe của ngành thuế. Đại lý Thuế là một nghề mới phát sinh trong nền kinh tế thị trường ở giai đoạn nền kinh tế xã hội ngày càng minh bạch hóa. Trên thế giới, Đại lý Thuế là tổ chức kinh doanh dịch vụ về thuế đã tồn tại lâu đời tại các nước phát triển như Nhật Bản, Úc, Trung Quốc và nhiều quốc gia Châu á khác.
Tại Nhật Bản, mô hình Đại lý Thuế đã có từ cuối những năm 40 đầu những năm 50 của thế kỷ trước. Luật Đại lý Thuế Nhật Bản được ban hành năm 1951, tại điều 1 Luật này ghi nhận Đại lý Thuế là “ người có chuyên môn về thuế, có lập trường hoàn toàn độc lập và công bằng, căn cứ vào quy định của chế độ kê khai đóng thuế, đáp lại sự tín nhiệm của các đối tượng nộp thuế và đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đóng thuế theo quy định của pháp luật về thuế”2 Tại Úc, Luật Đại lý Thuế được ban hành chính thức năm 2009, phần 8 mục 90-5: Từ điển, có giải thích, Đại lý Thuế là “người cung cấp các dịch vụ có liên quan đến: việc xác định các khoản công nợ, nghĩa vụ và quyền lợi của một thực thể sẽ phát sinh, hoặc có thể phát sinh, theo qui định của pháp luật thuế; hoặc tư vấn cho một thực thể về trách nhiệm, nghĩa vụ hoặc quyền lợi của thực thể này hay thực thể khác phát sinh, hoặc có thể phát sinh, theo Luật thuế; hoặc đại diện cho một thực thể trong các giao dịch của họ với Ủy viên”3 2 Báo cáo của Tổng cục Thuế tại Hội thảo về chủ đề “Kinh nghiệm của Nhật Bản về các hoạt động liên quan đến việc phối hợp với các tổ chức dịch vụ thuế” diễn ra từ 07/12 – 11/12/2009 3 Luật Đại lý dịch vụ Thuế Australia 2009: http://www.au/Details/C2013C00651 9 Dựa vào các quy định trên, dễ nhận thấy Đại lý Thuế là những người có chuyên môn về pháp luật, thuế và tài chính, họ sẽ tư vấn về chế độ tài chính, thuế và sau đó có thể thay mặt đối tượng nộp thuế đứng ra làm các thủ tục hành chính liên quan đến thuế với Cơ quan quản lý thuế. Tính hiệu quả của mô hình này đã được chứng minh khi đi vào hoạt động. Việt Nam cũng đã học hỏi và xây dựng mô hình Đại lý Thuế nhằm tạo sự tự giác tuân thủ các quy định về pháp luật Thuế các đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế.
Tuy nhiên ở nước ta Đại lý Thuế là mô hình khá mới mẻ, dịch vụ Đại lý Thuế là được các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu kỹ lưỡng và quy định đầu tiên tại Luật quản lý thuế 2006, có hiệu lực từ ngày 1/7/2007 với tên gọi là Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế. Quy định này được tiếp tục ghi nhận tại Điều 101 Luật quản lý thuế 2019, có hiệu lực từ ngày 1/7/2020. Theo đó, Luật quản lý thuế 2019 quy định: “Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế (sau đây gọi là đại lý thuế), là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, thực hiện các dịch vụ theo thỏa thuận với người nộp thuế”. Từ quy định trên, có thể hiểu Đại lý Thuế theo pháp luật Việt Nam như sau: Một là, Đại lý Thuế hoạt động theo các loại hình doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Hai là, Đại lý Thuế là trung gian giữa người nộp thuế và cơ quan thuế để có thể thực hiện tốt trách nhiệm nộp thuế. Khi có ủy quyền của người nộp thuế, Đại lý Thuế thực hiện dịch vụ làm thủ tục về thuế. Theo nội dung ủy quyền, Đại lý Thuế sẽ đại diện cho khách hàng của mình thực hiện những công việc đã nhận ủy quyền. Phạm vi công việc được ủy quyền phụ thuộc vào nhu cầu thực tế của khách hàng.
Đại lý Hải quan Từ sau khi trở thành thành viên của WTO vào năm 2007 cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam không ngừng phát triển, Việt Nam trở thành đối tác kinh tế với rất nhiều quốc gia trên thế giới. Khi thị trường được mở rộng, các doanh nghiệp 10 Việt Nam sẽ xuất khẩu hàng hóa của mình sang các nước khác và ngược lại. Nếu muốn xuất nhập khẩu hàng hóa, chủ hàng hóa buộc phải thực hiện các thủ tục hải quan. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông quan hàng hóa, Đại lý Hải quan đã ra đời.
Ở rất nhiều nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Trung Quốc hay Phillipin, loại hình Đại lý Hải quan chuyên nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu đã vô cùng phổ biến, chúng là một khâu trong cả chuỗi dịch vụ giao nhận hàng hóa đã đạt được nhiều thành quả. Cho đến thời điểm hiện tại, hầu hết các nước phát triển trên thế giới 100% hàng hoá xuất nhập khẩu đều được thông quan điện tử, dựa trên các tiêu chí quản lý rủi ro có trên mạng. Bởi tập thương mại khác nhau, tên của các đại lý hải quan cũng khác nhau giữa các quốc gia. Thuật ngữ “Customs Broker” - người môi giới hải quan” được sử dụng phổ biến khi nhắc đến Đại lý hải quan.
Nó được gọi là “Công ty môi giới hải quan” ở Indonesia, “ môi giới hải quan” ở Philippine, “xí nghiệp khai thuê hải quan” ở Trung Quốc, “môi giới hải quan” ở Nhật Bản, “công ty môi giới hải quan” ở Hàn Quốc, “đơn vị được chấp nhận làm người ăn hoa hồng về hải quan” ở Pháp, “người môi giới hải quan” ở Hoa Kỳ và ở Việt Nam chúng có tên gọi là “đại lý làm thủ tục hải quan”. Cụ thể: Luật Đại lý Hải quan của Phillipin có quy định về môi giới hải quan (Customs Brokers) là “một nghề liên quan đến việc thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu (thường là của các doanh nghiệp). Điều này liên quan đến việc chuẩn bị các tài liệu hoặc gửi số liệu điện tử, tính và nộp thuế, thuế tiêu thụ đặc biệt, tạo điều kiện thông tin liên lạc giữa các cơ quan chính phủ và các nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu”4 Ngoài ra, tại Trung Quốc, Đại lý Hải quan cũng đã được nhắc tới trong Luật hải quan nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa như: “Tờ khai hàng hoá nhập khẩu hoặc xuất khẩu và nộp các loại thuế có thể được hoàn thành bởi các 4 Đạo luật Cộng hòa Philippine số 9280 ngày 30 tháng ba 2004: http://www.net/statutes/repacts/ra2004/ra_9280_2004.html 11 nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu của riêng mình, và thủ tục như vậy cũng có thể được hoàn thành bởi Đại lý Hải quan của họ khi đăng ký với Hải quan”5 Như vậy, Đại lý Hải quan là người hiểu biết các quy định về thuế xuất khẩu, nhập khẩu đối với hàng hóa, họ thay mặt chủ hàng thực hiện các thủ tục hải quan với cơ quan hải quan. Tại thời điểm năm 1999, hình thức dịch vụ khai thuê hải quan đã tồn tại dưới hình thức chủ hàng tự khai và ủy quyền nhưng còn rất sơ khai, hoạt động nộp hồ sơ cho hải quan thường tập trung vào các cá nhân chuyên khai thuê.
Nghị định số 79/2005/NĐ-CP ngày 16-6-2005 của Chính phủ là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên được ban hành nhằm tạo thành một cơ sở pháp lý cụ thể để thực hiện triển khai và quản lý hoạt động của các đại lý làm thủ tục hải quan chuyên nghiệp. Hiện nay, đại lý làm thủ tục hải quan được định nghĩa cụ thể tại Khoản 3 Điều 1 Thông tư 22/2019/TT-BTC6. Từ những định nghĩa trên, Đại lý làm thủ tục hải quan (Đại lý Hải quan) có thể được hiểu như sau: Một là, Đại lý Hải quan là một doanh nghiệp và đủ điều kiện kinh doanh theo quy định pháp luật. Tương tự như Đại lý Thuế, Đại lý Hải quan cung cấp dịch vụ để làm thủ tục hải quan tới cho khách hàng.
Đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện.