Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay"
- Tác giả: Tạ Văn Khôi
- Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Minh Thông, PGS.TS. Vũ Thị Duyên Thủy
- Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Tư pháp)
- Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật
- Mã số: 9380106 (9.06)
- Năm bảo vệ: 2023
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Kể từ năm 1991, khi chủ trương thí điểm và xây dựng các khu công nghiệp (KCN) được triển khai, mô hình KCN đã đóng góp đáng kể vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tăng trưởng kinh tế. Tính đến cuối tháng 9/2021, cả nước có 563 KCN nằm trong quy hoạch phát triển với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 210,9 nghìn ha (chiếm 0,6% tổng diện tích đất tự nhiên và 4,1% diện tích đất phi nông nghiệp giai đoạn 2016–2020). Vốn đầu tư đăng ký xây dựng hạ tầng đạt 5,1 tỷ USD đối với nhà đầu tư nước ngoài và 385,1 nghìn tỷ đồng đối với nhà đầu tư trong nước; đóng góp vào ngân sách nhà nước khoảng 102,9 nghìn tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2021.
Tuy nhiên, mật độ sản xuất dày đặc tại các KCN phát sinh khối lượng chất thải lớn, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, tiếng ồn và ánh sáng. Khung pháp lý hiện hành (Luật Bảo vệ môi trường 2020, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017, các Nghị định 08/2022/NĐ-CP, 35/2022/NĐ-CP, 45/2022/NĐ-CP) vẫn tồn tại những bất cập: chưa phân định rõ trách nhiệm của các bên trong đánh giá tác động môi trường (ĐTM), quy định về quy hoạch xây dựng gắn với bảo vệ môi trường (BVMT) còn thiếu đồng bộ, cơ chế giải quyết tranh chấp chưa phản ánh đặc thù thiệt hại môi trường, và việc xử lý hình sự đối với tội phạm môi trường còn nhiều vướng mắc. Trước thực tế đó, nghiên cứu làm sáng tỏ thực hiện pháp luật (THPL) BVMT tại các KCN là yêu cầu cấp thiết.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây đa phần tiếp cận dưới góc độ kỹ thuật, quản lý môi trường đơn thuần, hoặc chỉ đánh giá cục bộ tại một địa phương, một khía cạnh chất thải cụ thể; chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống từ góc độ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật trên phạm vi toàn quốc.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực trạng THPL BVMT trong các KCN ở Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả các quy định pháp luật về BVMT trong KCN trong tình hình mới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (4 nhiệm vụ):
- Tổng hợp, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan để xác định khoảng trống khoa học.
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về THPL BVMT trong KCN (khái niệm, đặc điểm, vai trò, chủ thể, nội dung, hình thức, phương thức và các điều kiện bảo đảm).
- Đánh giá toàn diện thực trạng, kết quả đạt được, hạn chế, vướng mắc và phân tích nguyên nhân của hạn chế trong THPL BVMT tại KCN ở Việt Nam.
- Đề xuất quan điểm, định hướng và các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả THPL BVMT tại các KCN.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp, trọng tâm là việc thực thi Luật Bảo vệ môi trường và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 nhóm hoạt động: (1) Ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và phổ biến, giáo dục pháp luật; (2) Thực hiện quy định về quy hoạch xây dựng KCN gắn với BVMT và ĐTM; (3) Thực hiện quy định về quản lý chất thải; (4) Hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp môi trường.
- Phạm vi không gian: Các KCN trên phạm vi cả nước, trọng tâm là các địa bàn tập trung nhiều KCN như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Nam Định, Đà Nẵng.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2023.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa và phân tích các nhóm công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan trực tiếp đến đề tài:
Các hướng nghiên cứu trong nước
-
Nghiên cứu về hệ thống pháp luật BVMT:
- Đặng Văn Minh (2013), Giáo trình đánh giá tác động môi trường, Nxb. Nông nghiệp;
- Nguyễn Mạnh Khải (2020), Giáo trình pháp luật và chính sách môi trường, Nxb. ĐHQGHN;
- Võ Trung Tin (2020), Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật môi trường Việt Nam, Nxb. CTQG Sự thật;
- Lê Hồng Hạnh, Lê Đình Vinh (2021), Pháp luật về bồi thường thiệt hại môi trường ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp;
- Doãn Hồng Nhung (2018, 2019), các công trình về pháp luật BVMT nói chung và BVMT làng nghề, Nxb. ĐHQGHN;
- Nguyễn Thị Hà (2021), công trình về BVMT biển tại miền Trung, Nxb. Đại học Huế;
- Các luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Anh Đào (2013) về công cụ kinh tế, Nguyễn Thị Tố Uyên (2017) về cơ chế pháp lý cho tổ chức xã hội tham gia BVMT.
-
Nghiên cứu về thực hiện pháp luật BVMT:
- Phạm Văn Lợi, Nguyễn Văn Động (2005), sách về kiểm tra của cơ quan hành chính nhà nước đối với việc THPL BVMT, Nxb. Tư pháp;
- Bùi Cách Tuyến (2014), sách về giám sát xã hội trong BVMT, Nxb. Tư pháp;
- Nguyễn Thị Bình (2014), đề tài về nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính lĩnh vực BVMT;
- Phạm Thị Ngọc Dung (2019), Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay, Nxb. CTQG Sự thật;
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Trần Điện (2016) về BVMT làng nghề ở Đồng bằng sông Hồng; Vũ Ngọc Hà (2019) về xử lý vi phạm hành chính trong BVMT;
- Hoàng Thị Kim Quế (2015), bài báo về các yếu tố tác động đến THPL của công dân trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN.
-
Nghiên cứu về pháp luật BVMT và THPL BVMT trong KCN:
- Trương Thị Minh Sâm (2004), sách chuyên khảo về nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước tại KCN, KCX vùng kinh tế trọng điểm phía Nam;
- Phạm Ngọc Đăng (2008), Quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp, Nxb. Xây dựng;
- Phạm Văn Lợi (2010, 2013, 2018), các sách chuyên khảo về cơ chế bảo đảm thực thi điều cấm, mô hình cơ quan quản lý môi trường KCN, tội phạm môi trường, Nxb. Tư pháp;
- Doãn Hồng Nhung (2018), Pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp Việt Nam, Nxb. ĐHQGHN;
- Đặng Thu Hiền (2018), sách chuyên khảo về phòng ngừa tội phạm môi trường tại KCN của lực lượng Cảnh sát môi trường, Nxb. CAND;
- Phạm Thị Hoài Thu (2020), Luận án tiến sĩ Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa (Học viện Khoa học xã hội) và bài báo năm 2020 trên Tạp chí Quản lý Nhà nước;
- Vũ Thị Duyên Thủy (2011), bài viết về thực trạng pháp luật BVMT trong hoạt động KCN trên Tạp chí Luật học;
- Nguyễn Thị Bình (2016), bài viết về trách nhiệm của Ban Quản lý KCN trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật;
- Doãn Hồng Nhung, Lưu Trần Phương Thảo (2019), bài viết về trách nhiệm BVMT của doanh nghiệp KCN tại Hà Nội.
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Tại Trung Quốc: Báo cáo của World Bank (2019) về khung pháp lý cho KCN sinh thái tại Trung Quốc; nghiên cứu của Peng Kan, Linyu Xu (2013) về đánh giá sức tải môi trường nước tại KCN Phúc Sơn (Châu Hải); nghiên cứu của Wan Yongkun và cộng sự (2013) về mối liên hệ giữa chuyển dịch cơ cấu công nghiệp và ô nhiễm tại tỉnh Cam Túc.
- Tại Ấn Độ: Vandana Surana (2006) về mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp và ô nhiễm môi trường.
- Tại Anh: Brett Smith (2015) về chính sách công nghệ sạch; W. Avis (2018, Đại học Birmingham) về các biện pháp bảo vệ môi trường KCN tại các nước đang phát triển.
- Tại Mỹ và Đông Á: Andreas W. Koenig (2009) về phát triển KCN sinh thái ở Bắc Mỹ; Benjamin R. Richardson (2014) về thực thi quy định môi trường trong các đặc khu kinh tế tại Đông Á.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, luận án định vị là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tiếp cận liên ngành (Luật học, Khoa học Môi trường, Quản lý học), xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về THPL BVMT trong KCN và đánh giá thực trạng trên phạm vi cả nước giai đoạn 2010–2023, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về thể chế và tổ chức thực hiện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án được xây dựng dựa trên 5 nền tảng lý thuyết và quan điểm:
- Lý thuyết về thực hiện pháp luật: Vận dụng 4 hình thức THPL truyền thống (tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật) vào quan hệ pháp luật BVMT tại KCN.
- Lý thuyết khoa học môi trường: Lý giải khái niệm môi trường KCN, các thành phần môi trường và tác động của chất thải công nghiệp.
- Lý thuyết phát triển bền vững: Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái trong hoạt động KCN.
- Lý luận Mác - Lênin về Nhà nước và Pháp luật: Đặt trong mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng; vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước thông qua công cụ pháp luật.
- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Cụ thể hóa Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng các nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển, quy luật lượng - chất, các cặp phạm trù cái chung - cái riêng, nội dung - hình thức, khả năng - hiện thực.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích: Hệ thống hóa và phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo chuyên ngành và dữ liệu thứ cấp.
- Phương pháp logic - lịch sử: Đánh giá sự phát triển của hệ thống quy định pháp luật và quá trình mở rộng mô hình KCN qua các thời kỳ.
- Phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn và điều tra xã hội học: Xây dựng phiếu điều tra và thu thập thông tin từ 350 phiếu khảo sát đối với 6 nhóm chủ thể: cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan hành chính sự nghiệp, chủ đầu tư hạ tầng KCN, doanh nghiệp sản xuất trong KCN, cán bộ/công nhân lao động, và người dân sinh sống quanh KCN. Địa bàn khảo sát trải rộng tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Yên Bái, Nghệ An, Gia Lai.
- Phương pháp sơ đồ hóa: Trực quan hóa dữ liệu thông qua hệ thống bảng số liệu và biểu đồ thống kê chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp
Chương 1 xây dựng khung lý thuyết nền tảng cho toàn bộ luận án, bao gồm các nội dung cốt lõi:
-
Khái niệm và đặc điểm:
- Khái niệm: THPL BVMT trong KCN là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật BVMT trong các KCN, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
- Đặc điểm: Mang tính chấp hành và điều hành cao; chủ thể tham gia đa dạng với lợi ích đan xen; bị chi phối trực tiếp bởi yếu tố công nghệ xử lý chất thải và mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Vai trò: Trực tiếp ngăn ngừa ô nhiễm; thúc đẩy phát triển bền vững; giảm chi phí khắc phục sự cố môi trường; bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành.
-
Chủ thể thực hiện pháp luật BVMT trong KCN:
- Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và thiết chế giải quyết tranh chấp: Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, Sở TN&MT, Phòng TN&MT, Tòa án nhân dân, Trọng tài thương mại, và đặc biệt là Ban Quản lý (BQL) KCN với vị trí quản lý trực tiếp tại địa bàn.
- Nhóm chủ thể sản xuất, kinh doanh: Doanh nghiệp đầu tư xây dựng - kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN và các doanh nghiệp thứ cấp thuê lại đất để sản xuất.
- Các chủ thể khác: Cán bộ, công nhân, người lao động làm việc trong KCN; tổ chức chính trị - xã hội; cộng đồng dân cư sinh sống xung quanh KCN.
-
Nội dung và hình thức thực hiện:
- Nội dung: Bao gồm hoạt động ban hành văn bản chi tiết, tuyên truyền phổ biến; tuân thủ quy hoạch xây dựng gắn với ĐTM; thực hiện các quy trình kỹ thuật thu gom, xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn/nguy hại; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp môi trường.
- 4 hình thức: Tuân thủ pháp luật (không thực hiện hành vi bị cấm như xả thải chưa qua xử lý); Thi hành pháp luật (thực hiện nghĩa vụ bắt buộc như lập báo cáo ĐTM, đóng phí bảo vệ môi trường); Sử dụng pháp luật (thực hiện quyền được yêu cầu bồi thường, quyền khiếu nại); Áp dụng pháp luật (cơ quan nhà nước ra quyết định xử phạt, cấp giấy phép môi trường).
- Biện pháp thực hiện: Biện pháp mệnh lệnh hành chính, biện pháp kinh tế (thuế, phí môi trường, ký quỹ) và biện pháp hình sự.
-
Điều kiện bảo đảm: Mức độ hoàn thiện của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; năng lực bộ máy cơ quan quản lý nhà nước; ý thức pháp luật của doanh nghiệp và người dân; tiềm lực cơ sở vật chất, kỹ thuật quan trắc; và hiệu quả hợp tác quốc tế.
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 phản ánh toàn diện bức tranh thực tiễn THPL BVMT tại KCN từ năm 2010 đến 2023 qua các chỉ số và dữ liệu khảo sát thực tế:
- Tình hình phát triển KCN và ô nhiễm môi trường:
- Quy mô KCN tăng nhanh từ những năm 1990 đến nay. Ô nhiễm tập trung tại các vùng kinh tế trọng điểm (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ).
- Các thông số quan trắc điển hình: Diễn biến nồng độ BOD5 trên lưu vực sông Đồng Nai (2016–2020), chỉ số chất lượng nước WQI sông Tiền (2015–2019), tổng bụi lơ lửng (TSP) và nồng độ SO2 xung quanh các KCN có thời điểm vượt ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật môi trường quốc gia.
| Danh mục bảng số liệu và biểu đồ chính trong luận án |
Nội dung phản ánh |
| Bảng VBQPPL (2011–2020 / 2016–2020) |
Thống kê số lượng văn bản BVMT do Trung ương ban hành |
| Bảng điều tra 350 phiếu khảo sát |
Tỷ lệ lựa chọn các kênh thông tin, tuyên truyền pháp luật BVMT |
| Bảng phê duyệt ĐTM & xác nhận công trình BVMT |
Số liệu dự án tại tỉnh Long An và Nam Định (2016–2020) |
| Bảng trạm xử lý nước thải tập trung |
Công suất và hiện trạng vận hành trạm XLNT tại KCN Đà Nẵng |
| Bảng thanh tra, kiểm tra Trung ương |
Số cuộc thanh tra, vi phạm và số tiền xử phạt qua các năm |
| Biểu đồ chất thải rắn & chất thải nguy hại |
Lượng chất thải rắn (2019) và chất thải nguy hại (2015–2020) |
| Biểu đồ tỷ lệ KCN có hệ thống XLNT tập trung |
Tỷ lệ KCN/KCX hoàn thành hệ thống XLNT đạt chuẩn (2016–2021) |
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp ở Việt Nam
Chương 3 đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo và 2 nhóm giải pháp đồng bộ:
1. Hệ thống quan điểm chỉ đạo (4 quan điểm)
- Thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng về BVMT và phát triển bền vững ("không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần").
- Tiến hành thường xuyên, liên tục, có trọng tâm trọng điểm, phù hợp với đặc thù sản xuất của từng loại hình KCN.
- Đề cao vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương và Ban Quản lý KCN trong công tác quản lý địa bàn.
- Bảo đảm và phát huy quyền giám sát, tham gia của cộng đồng dân cư xung quanh KCN.
2. Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật
- Xây dựng chương riêng: Kiến nghị xây dựng một chương riêng về bảo vệ môi trường trong các khu sản xuất tập trung trong Luật Bảo vệ môi trường để bảo đảm tính thống nhất và đặc thù.
- Hoàn thiện quy định về quy hoạch và ĐTM: Quy định chặt chẽ tỷ lệ diện tích cây xanh, khoảng cách ly an toàn môi trường; ràng buộc trách nhiệm pháp lý của chủ đầu tư hạ tầng và cơ quan tư vấn lập báo cáo ĐTM.
- Quy định về tổ chức quản lý: Làm rõ địa vị pháp lý, thẩm quyền thanh tra, xử phạt vi phạm môi trường của Ban Quản lý KCN.
- Hoàn thiện chế tài xử lý: Nâng mức phạt tiền đối với các hành vi cố ý xả thải chất độc hại; cụ thể hóa các yếu tố cấu thành tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự để tháo gỡ vướng mắc trong việc khởi tố hình sự pháp nhân thương mại.
- Hoàn thiện cơ chế bồi thường: Xây dựng cơ chế xác định thiệt hại môi trường và thành lập quỹ hỗ trợ bồi thường thiệt hại môi trường.
3. Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện
- Đổi mới nội dung, đa dạng hóa kênh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến người lao động trong KCN.
- Thiết lập cơ chế bảo vệ và khen thưởng người tố cáo vi phạm pháp luật môi trường; huy động cộng đồng tham gia giám sát xả thải.
- Tăng cường kiểm tra đột xuất, sử dụng hệ thống quan trắc tự động truyền dữ liệu liên tục về Sở TN&MT.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy, đào tạo chuyên môn và chuẩn hóa đạo đức công vụ cho cán bộ quản lý môi trường KCN.
- Gắn trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu chính quyền địa phương và Ban Quản lý KCN với tình trạng ô nhiễm trên địa bàn.
- Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong tái chế, xử lý tuần hoàn chất thải công nghiệp.
- Mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu chuyển giao công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật xanh từ các quốc gia phát triển.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã được Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường thông qua ngày 15/8/2023 với kết quả 6/6 thành viên có mặt tán thành (100%). Luận án thể hiện các đóng góp mới:
Đóng góp về mặt lý luận
- Xây dựng hệ thống lý luận toàn diện về THPL BVMT trong KCN: chuẩn hóa định nghĩa, phân tích tính chất đặc thù, cấu trúc chủ thể, các hình thức và biện pháp thực hiện (mệnh lệnh hành chính, kinh tế, hình sự), cùng hệ điều kiện bảo đảm thi hành.
- Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa phát triển mô hình KCN, hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu tuân thủ pháp luật môi trường.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá bức tranh thực tế việc THPL BVMT tại KCN trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2010–2023 dựa trên các báo cáo ngành và kết quả điều tra 350 phiếu khảo sát tại nhiều địa phương.
- Chỉ rõ 4 nhóm tồn tại cơ bản: bất cập thể chế, hạn chế trong phân loại/vận hành xử lý chất thải, vướng mắc trong cưỡng chế thanh tra/khởi tố hình sự, và trở ngại khi giải quyết tranh chấp bồi thường.
- Đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật đồng bộ (đặc biệt là đề xuất xây dựng chương riêng trong luật chuyên ngành) và 7 nhóm giải pháp tổ chức thực hiện có tính khả thi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ vào kết luận của Hội đồng chấm luận án, bản nhận xét của người phản biện và bản giải trình chỉnh sửa của nghiên cứu sinh:
Các hạn chế được ghi nhận
- Dung lượng và kết cấu: Ban đầu kết cấu các mục, tiểu mục tại Chương 2 và Chương 3 còn thiếu cân đối; dung lượng một số phần viết còn dàn trải trước khi được chỉnh lý lại.
- Kinh nghiệm quốc tế: Việc phân tích kinh nghiệm THPL BVMT tại một số quốc gia còn ở mức độ khái quát, chưa đi sâu so sánh chi tiết từng mô hình KCN sinh thái với đặc thù Việt Nam.
- Hành vi của người lao động: Dữ liệu phân tích hành vi THPL của công nhân trực tiếp sản xuất còn hạn chế do người lao động e ngại ảnh hưởng đến việc làm khi cung cấp thông tin tiêu cực về doanh nghiệp.
- Kỹ thuật trình bày: Một số chú thích trích dẫn nguồn văn bản, số liệu ban đầu còn sai sót về thể thức, đã được tác giả rà soát và bổ sung hoàn thiện theo yêu cầu của Hội đồng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu sâu cơ chế pháp lý điều chỉnh mô hình KCN sinh thái, KCN tuần hoàn theo chuẩn mực quốc tế tại Việt Nam.
- Khảo sát chuyên biệt về nhận thức và hành vi tuân thủ pháp luật môi trường của đội ngũ công nhân, người lao động trong các doanh nghiệp FDI.
- Hoàn thiện cơ chế giám định tư pháp về môi trường nhằm phục vụ khởi tố hình sự pháp nhân gây ô nhiễm tại KCN.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ TN&MT, UBND các tỉnh/thành phố, Ban Quản lý KCN): Tham khảo các đề xuất về phân định thẩm quyền, quy trình thanh tra kiểm tra và các tiêu chí thẩm định ĐTM gắn với quy hoạch phân khu.
- Chủ đầu tư hạ tầng KCN và doanh nghiệp sản xuất: Cung cấp tài liệu định hướng tuân thủ nghĩa vụ môi trường, phòng tránh rủi ro pháp lý và trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
- Cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu: Làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu chuyên khảo trong các học phần Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Luật Môi trường, Luật Hành chính tại các trường đại học khối ngành luật và quản lý công.
Câu hỏi thường gặp
1. Chủ thể thực hiện pháp luật BVMT trong KCN theo luận án bao gồm những ai?
Chủ thể THPL BVMT trong KCN gồm 3 nhóm: (1) Cơ quan nhà nước (Chính phủ, Bộ TN&MT, UBND các cấp, Sở/Phòng TN&MT, Tòa án, Viện kiểm sát và đặc biệt là Ban Quản lý KCN); (2) Chủ thể sản xuất, kinh doanh (chủ đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN và các doanh nghiệp sản xuất thứ cấp); (3) Các chủ thể khác (công nhân, người lao động, tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư xung quanh KCN).
2. Luận án đã sử dụng mẫu điều tra xã hội học với quy mô và phân bổ như thế nào?
Luận án tiến hành điều tra qua 350 phiếu khảo sát phân bổ cho 6 nhóm đối tượng: cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan hành chính sự nghiệp, chủ đầu tư hạ tầng KCN, chủ doanh nghiệp sản xuất trong KCN, công nhân lao động và người dân xung quanh KCN; tập trung tại các địa bàn trọng điểm: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Yên Bái, Nghệ An, Gia Lai.
3. Tác giả chỉ ra những khó khăn gì trong việc áp dụng biện pháp hình sự đối với tội phạm môi trường tại KCN?
Khó khăn chủ yếu xuất phát từ việc quy định cấu thành tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự đòi hỏi phải xác định rõ các yếu tố định lượng về mức độ ô nhiễm, chất thải nguy hại hoặc hậu quả nghiêm trọng tức thì, trong khi ô nhiễm môi trường công nghiệp thường diễn ra âm thầm, tích tụ qua nhiều năm. Cơ chế thu thập mẫu chứng cứ và giám định tư pháp môi trường còn phức tạp, dẫn đến khó xử lý hình sự pháp nhân thương mại.
4. Đề xuất lập pháp trọng tâm nhất của tác giả đối với Luật Bảo vệ môi trường là gì?
Tác giả đề xuất xây dựng một chương riêng về bảo vệ môi trường trong các khu sản xuất tập trung trong Luật Bảo vệ môi trường nhằm quy định toàn diện các quy chuẩn đặc thù về hạ tầng kỹ thuật BVMT, quy hoạch cách ly, trách nhiệm ĐTM và phân định thẩm quyền quản lý trực tiếp của Ban Quản lý KCN.
5. Vì sao người lao động trong KCN còn hạn chế trong việc thực hiện quyền tố cáo hành vi vi phạm môi trường?
Theo phân tích từ dữ liệu khảo sát của luận án, công nhân và người lao động trực tiếp trong KCN e ngại tố cáo sai phạm của doanh nghiệp vì tâm lý sợ bị trù dập, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc mất việc làm, đồng thời thiếu cơ chế bảo vệ người tố cáo hiệu quả tại các cơ sở sản xuất.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Tạ Văn Khôi là công trình nghiên cứu chuyên sâu về thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp ở Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Công trình đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng dựa trên hệ thống dữ liệu thống kê kết hợp điều tra 350 phiếu khảo sát thực tế trên toàn quốc giai đoạn 2010–2023. Hệ thống quan điểm và giải pháp do luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý môi trường tại các khu công nghiệp ở Việt Nam.