Phần mở đầu: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận: Trình bày cơ sở lý thuyết về tài chính hành vi và các nhân tố tác động đến ý định đầu tư. 4 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu: Xây dựng mô hình nghiên cứu. Trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết tác giả đề ra.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trình bày phương pháp phân tích và kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung của chương này là nhằm tổng hợp lại các lý thuyết liên quan đến tài chính hành vi. Đầu tiên tác giả sẽ trình bày bức tranh tổng quan về lý thuyết tài chính hành vi trong bối cảnh so sánh với lý thuyết tài chính truyền thống.
Từ đó, các nhân tố quan trọng trong lý thuyết tài chính hành vi như lý thuyết dựa trên kinh nghiệm (Heuristic theory), lý thuyết triển vọng (Prospect theory) và hành vi bầy đàn (Herding)… sẽ được đề cập đến trong mối quan hệ tác động với ý định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán. Cuối cùng, tác giả trình bày các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài này. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TRUYỀN THỐNG VÀ LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI 2. Lý thuyết tài chính truyền thống (Standard Finance) Tài chính truyền thống được xây dựng trên cơ sở nguyên lý chênh lệch (Arbitrage Principle) của Miller và Modigliani, nguyên lý danh mục của Markowitz, lý thuyết về định giá tài sản vốn của Sharpe, Lintner, Mertom, Black và lý thuyết định giá hợp đồng quyền chọn (Option) của Black Scholes, Merton (Johnsson và ctg.
Các lý thuyết này xem xét thị trường là hiệu quả và có tính quy chuẩn cao. Lý thuyết kinh tế tài chính hiện đại luôn dựa trên giả định rằng các nhà đầu tư là có lý trí. Như vậy họ luôn hành xử một cách hợp lý, kết quả là sự cân bằng thị trường dựa trên các hành xử hợp lý được thực hiện. Trong sự cân bằng này, chứng khoán được định giá theo lý thuyết thị trường hiệu quả.
Theo Barberis và Thaler (2003), trong một thị trường truyền thống, nơi mà nhà đầu tư có lý trí và không xuất hiện các sự cạnh tranh, giá cổ phiếu sẽ được phản ánh theo giá trị gốc (Fundamental Value). Ngoài ra trong thị trường này, nhà đầu tư có thể tìm kiếm được đầy đủ các thông tin cần thiết và lãi suất chiết khấu thì phù hợp với các mẫu hình được đề ra. Barberis và Thaler gọi lý thuyết đó là lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH – Efficient Markets Hypothesis). Theo lý thuyết này, thị trường hiệu quả luôn tồn tại một cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng thái cân bằng, đó là cơ chế kinh doanh chênh lệch giá.
Nguyên tắc của cơ chế kinh doanh chênh lệch giá là khi tồn tại hiện tượng đánh giá sai trên thị trường, hay giá của các tài sản tài chính trên thị trường không phản ánh một cách 6 chính xác giá trị hợp lý thì sẽ tồn tại cơ hội kinh doanh chênh lệch giá. Khi đó “những nhà đầu tư hợp lý” sẽ tận dụng những cơ hội này để mua tài sản bị định giá thấp và bán tài sản bị đánh giá cao. Hành động này sẽ góp phần điều chỉnh thị trường về trạng thái cân bằng hợp lý. Và việc kinh doanh chênh lệch giá này sẽ diễn ra rất nhanh.
Vì vậy, Barberis và Thaler (2003) đã dùng cụm từ “Không có bữa ăn trưa miễn phí” (“No free lunch”) để nói về hiện tượng này, sẽ không có chiến lược đầu tư nào hiệu quả để kiếm được nhiều hơn mức lợi nhuận trung bình đã điều chỉnh rủi ro (excess risk-adjusted average returns). Tuy nhiên theo Ritter (2003), trên thị trường chứng khoán, không phải nhà đầu tư nào cũng là nhà đầu tư hợp lý, bởi vì sự khác nhau về sở thích của họ hay khi niềm tin của họ bị giảm sút. Và khi mà nhà đầu tư không phải lúc nào cũng có những quyết định hợp lý thì các quyết định này sẽ dễ bị dẫn dắt bởi các yếu tố liên quan đến hành vi, tâm lý. Statman (1995) đã so sánh hai con người trong hai lý thuyết thị trường hiệu quả và lý thuyết tài chính hành vi như sau: nhà đầu tư trong các lý thuyết tài chính truyền thống luôn là nhà đầu tư hợp lý, họ không bị nhầm lẫn các trường hợp, họ không bị ảnh hưởng bởi các lỗi nhận thức và tất nhiên là họ luôn bình tĩnh trong mọi tình huống cũng như không cảm nhận nỗi buồn do hối tiếc.
Đây thật sự là mẫu người hoàn hảo, và có lẽ sẽ rất ít trong thực tế. Tuy nhiên, lý thuyết tài chính hành vi thì cho rằng nhà đầu tư không phải luôn luôn hợp lý, mà họ là rất bình thường. Vì vậy họ dễ mắc sai lầm hơn, họ dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý và trên hết là họ cảm nhận được nỗi buồn do hối tiếc và chắc chắn là không phải lúc nào họ cũng có thể bình tĩnh để ra những quyết định đúng. Vì vậy, việc tìm hiểu lý thuyết tài chính hành vi đóng vai trò quan trọng trong tài chính.
Lý thuyết tâm lý học này được dùng để giải thích các hành vi của con người, đặc biệt hành vi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Trong trường hợp mà các quyết định của nhà đầu tư được đưa ra không hợp lý như suy luận thì cần phải liên tưởng đến ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý, hành vi. Theo Kim và Nofsinger (2008), đây là điều cực kỳ quan trọng nếu như các lỗi sai sót từ quyết định đầu tư không hợp lý ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và khiến cho việc kinh doanh chênh lệch giá trở nên dễ dàng. Lý thuyết tài chính hành vi Tài chính hành vi là mô hình mới của tài chính, bổ sung cho lý thuyết tài chính truyền thống, bằng cách giới thiệu khía cạnh hành vi đối với quá trình ra quyết định.
Tài chính hành vi ứng dụng các lý thuyết về hành vi con người xuất phát từ tâm lý học, xã hội học để hiểu hành vi của nhà đầu tư trên thị trường tài chính và cố gắng giải thích làm thế nào và tại 7 sao những sai lầm do cảm xúc và kinh nghiệm tác động đến nhà đầu tư trong quá trình ra quyết định và tạo ra các trường hợp bất thường trên thị trường chứng khoán. Baberis và Thaler (2003) cho rằng lý thuyết tài chính hành vi giải thích về nhà đầu tư không hợp lý và quá trình ra quyết định của họ bằng các bằng chứng thực nghiệm về tâm lý học nhận thức và sự lệch lạc trong hành vi của nhà đầu tư. Theo Baberis và Thaler (2003), hai cột trụ của lý thuyết tài chính hành vi là sự giới hạn của việc kinh doanh chênh lệch giá và tâm lý của nhà đầu tư. DeBondt và Thaler (1985) thì xem lý thuyết tài chính hành vi như một mô hình áp dụng tâm lý học nhận thức để giải thích về thị trường và hành vi của nhà đầu tư.
Lý thuyết này cho rằng trong quá trình lựa chọn, nhà đầu không phải lúc nào cũng là nhà đầu tư hợp lý bởi vì họ chịu tác động bởi niềm tin của chính mình và sự lệch lạc có hệ thống trong quá trình ra quyết định. Điều kiện để lý thuyết tài chính hành vi tồn tại Theo lý thuyết thị trường hiệu quả thì bất kỳ sự định giá sai nào trên thị trường (mispricing) thì với các nhà đầu tư hợp lý trên thị trường sẽ điều chỉnh bằng công cụ kinh doanh chênh lệch giá để đưa nó về đúng với giá trị thực của mình. Tuy nhiên, nếu việc kinh doanh chênh lệch giá bị giới hạn làm cho việc tài sản bị định giá sai kéo dài, việc này sẽ làm các lý thuyết tài chính truyền thống giảm hiệu quả. Lúc này lý thuyết tài chính hành vi được xem là một sự bổ sung đầy giá trị.
Theo Hồ Quốc Tuấn (2007), có ba điều kiện để lý thuyết tài chính hành vi tồn tại: · Hành vi không hợp lý: Nhà đầu tư sẽ có hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và xử lý đúng những thông tin mà họ có và thông tin từ thị trường cung cấp, từ đó dẫn đến những kỳ vọng sai lệch về tương lai của cổ phiếu họ đầu tư vào. Trong một số trường hợp, do dựa trên kinh nghiệm hay nhận thức sẵn có mà họ mắc phải sai lầm. · Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống: Nếu chỉ một nhà đầu tư đơn lẻ có hành vi không hợp lý thì ảnh hưởng của giao dịch nhà đầu tư này lên giá các tài sản tài chính trên thị trường là không đáng kể, cho dù khái niệm nhà đầu tư là cá nhân hay một công ty, tổ chức lớn. Nhưng khi hành vi không hợp lý này mang tính hệ thống, có nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu tư cùng có một hành vi không hợp lý như nhau, khi đó việc định giá sai tài sản tài chính sẽ xuất hiện và có khả năng kéo dài, khó điều chỉnh.
Họ gọi việc này là hiệu ứng bầy đàn. 8 · Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường: Theo lý thuyết thị trường hiệu quả thì việc kinh doanh chênh lệch giá sẽ điều chỉnh giá trên thị trường về cân bằng. Tuy nhiên cái khó ở đây là xác định được khi nào mức định giá sai đã đạt đến giới hạn trên hay dưới để điều chỉnh lại. Nếu nhà đầu tư tham gia “điều chỉnh” giá không đúng lúc thì rất dễ rơi vào trạng thái “tiền mất tật mang”.
KHÁI NIỆM Ý ĐỊNH ĐẦU TƯ Đầu tiên, khi xét về khái niệm đầu tư chứng khoán theo lý thuyết thì đây được xem là một loại hình đầu tư tài chính. Trong hoạt động này, các nhà đầu tư sẽ mua các giấy tờ có giá với kỳ vọng sẽ thu được một khoản lời trong tương lai. Đầu tư cổ phiếu sẽ giúp nhà đầu tư có thể thu được lợi nhuận từ phần lợi tức được chia và phần tăng giá chứng khoán trên thị trường. Mặt khác, nhà đầu tư có thể được hưởng quyền quản lý, quyền kiểm soát doanh nghiệp từ việc nắm giữ cổ phiếu.
Như vậy, ta thấy rằng hành vi đầu tư cổ phiếu được xem là hành vi mua cổ phiếu.