CHƯƠNG I Chương này tác giả đã trình bày khái quát về vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các câu hỏi đặt ra cần giải quyết, ý nghĩa khoa học của đề tài trong thực tiễn và sau cùng là giới thiệu bô cục của luận văn. 16 Với pha ̣m vi nghiên cứu tại tỉnh Kiên Giang, mu ̣c tiêu cố t lõi của đề tài là xác đinh ̣ các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ chậm giải ngân các dự án đầu tư XDCB tại tỉnh Kiên Giang bằ ng phương pháp nghiên cứu đinh ̣ lươ ̣ng kế t hơ ̣p đinh ̣ tính. Trong chương tiế p theo, cơ sở lý thuyế t bao gồm các khái niệm quan trọng có liên quan đến nghiên cứu của đề tài, về dự án đầu tư xây dựng, các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng, các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài, giả thuyế t nghiên cứu, đưa ra mô hình nghiên cứu. 17 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Các định nghĩa và khái niệm quan trọng Dự án đầu tư xây dựng: Theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014, là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. Theo nhà hoa học Eric Verzuh (Mỹ): Một dự án được định nghĩa là “công việc mang tính chất tạm thời và tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ độc nhất”. Công việc tạm thời sẽ có điểm bắt đầu và kết thúc.
Mỗi khi công việc được hoàn thành thì nhóm dự án sẽ giải tán hoặc di chuyển sang những dự án mới. Theo tiêu chuẩn của Australia (AS 1379-1991) định nghĩa: Dự án là một dự kiến công việc có thể nhận biết được, có khởi đầu, có kết thúc bao hàm một số hoạt động có liên hệ mật thiết với nhau. Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 được Việt Nam chấp thuận trong tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2000: Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực. Chủ đầu tư xây dựng: Theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014, là cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng.
Công trình xây dựng: Là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần 18 trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác. Quản lý dự án: Theo từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia, là ngành khoa học nghiên cứu về việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý, giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời gian, trong phạm vi ngân sách đã được duyệt, đảm bảo chất lượng, đạt được mục tiêu cụ thể của dự án và các mục đích đề ra. Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng gồm: Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Cơ quan chuyên môn về xây dựng là cơ quan chuyên môn trực thuộc Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Phòng có chức năng quản lý xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư là cơ quan, tổ chức có chuyên môn phù hợp với tính chất, nội dung của dự án và được người quyết định đầu tư giao nhiệm vụ thẩm định. Nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng: Theo Luật Xây dựng số 50/2014, là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động đầu tư xây dựng. Tiến độ hoàn thành dự án xây dựng: Là thời gian thực tế hoàn thành một dự án đầu tư xây dựng tính từ khi chuẩn bị dự án đến khi nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng chuyển sang giai đoạn bảo hành.
Khái niệm chậm tiến độ giải ngân Trong nghiên cứu đề tài này tình trạng chậm tiến độ giải ngân của dự án được hiểu chính là việc cấp phát, thanh toán vốn NSNN không đạt tiến độ so kế hoạch vốn được giao từ đầu năm của từng dự án, giải ngân vốn vượt quá thời gian thanh toán cho dự án so tiến độ thực hiện dự án theo quyêt định đầu tư. Hậu quả của chậm tiến độ giải ngân Hậu quả của việc chậm tiến độ giải ngân, làm tỷ lệ giải ngân đạt thấp, không đúng theo tiến độ thực hiện kế hoạch vốn của Chính Phủ cũng như kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao. Làm nguồn vốn NSNN được sử dụng không hiệu quả, ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh cũng của Quốc Gia. Bởi vì, nguồn vốn cân đối NSNN của Việt Nam, nguồn thu không đáp ứng đủ nhu cầu chi, hàng năm Nhà nươc phải đi vay trong và ngoài nước để bù đắp cho NSNN mà chủ yếu là để chi đầu tư phát triển, trong đó có chi đầu tư XDCB, Nhà nước phải trả một khoản lãi vay rất lớn, trong khi nguồn vốn sử dụng không hết, còn nằm ở Kho bạc Nhà nước.
Hơn nữa, như đã nói ở trên việc chậm tiến độ giải vốn làm cho Nhà nước, Chính phủ bị mất các nguồn thu do chậm đưa dự án, công trình vào khai thác sử dụng; chậm tiến độ khiến hầu hết các dự án phải chịu thêm gánh nặng chi phí như: chi phí dỡ dang, tăng chi phí nhân công, máy móc thi công, trượt giá nguyên vật liệu…(Shaikh và cộng sự, 2010 trích dẫn bởi Vũ Quang Lãm, 2015). Phân loại dự án đầu tư xây dựng Theo Luật Xây dựng 50/2014 có 3 hình thức phân loại dự án đầu tư xây dựng: - Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình chính của dự án gồm: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công. - Dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ cần yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng gồm: Công trình xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo; Công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng. - Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo loại nguồn vốn sử dụng gồm: Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách và dự án.
Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng Dự án đầu tư xây dựng tạo ra sản phẩm mang tính chất đơn nhất, độc đáo. Khác với quá trình sản xuất hàng hóa khác mang tính liên tục hoặc gián đoạn, sản 20 phẩm của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng hóa hàng loạt, mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại. Tuy nhiên, ở nhiều dự án khác, tính duy nhất ít rõ ràng hơn và dễ bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng.
Nhưng điều khẳng định là chúng vẫn có thiết kế khác nhau, vị trí khác nhau, khách hàng khác… Điều ấy càng tạo nên nét duy nhất, độc đáo, mới lạ của dự án. Dự án đầu tư xây dựng mang tính phức tạp và đa ngành: Một dự án được tổ chức thực hiện liên quan đến nhiều Ngành và có sự tương tác qua lại giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án. Dự án nào càng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người sử dụng dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước… Tùy theo tính chất của dự án, quy mô dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên càng khác nhau. Giữa các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau.
Tính chất này của dự án dẫn đến hai hậu quả nghiêm trọng: (1) không dễ các bên tham gia có cùng quyền lợi, định hướng và mục tiêu; (2) khó khăn trong việc quản lý, điều phối nguồn lực… Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối liên hệ với các bộ phận quản lý khác. Dự án đầu tư bị giới hạn về quy mô và thời gian thực hiện : Một số dự án đặt ra một số yêu cầu nghiêm ngặt về quy mô, nguồn vốn dự án, các thông số kinh tế, kỹ thuật và thời gian thực hiện của dự án, đặt ra đòi hỏi phải thực hiện đúng theo yêu cầu của Người quyết định đầu tư dự án. Thước đo để đánh giá sự thành công, hiệu quả của dự án là dự án đảm bảo yêu cầu về quy mô và tiến độ thực hiện đặt ra. Dự án đầu tư có tính bất định và rủi ro cao: Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tổng vốn đầu tư, vật tư và lao động rất lớn để thực hiên trong một khoảng thời gian nhất định.
Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao.