chương I, tài liệu nghiên cứu được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau. Hà Vũ Sơn và Dương Ngọc Thành (2014) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (TBKT) trong sản xuất lúa ở hộ nông dan tại tỉnh Hậu Giang. Các tác giả đã điều tra thực tế 376 hộ nông dân sản xuất lúa tại tỉnh Hậu Giang chia làm hai nhóm là có phương thức canh tác truyền thống và ứng dụng TBKT như giống mới, IPM, sa hang, 3 giảm 3 tăng, I phải 5 giảm qua phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng. Phương pháp phân tích hồi quy logistic và phân tích nhân tổ được các tác gia áp dung dé xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng TBKT và mức độ ứng dụng TBKT vao sản xuất lúa của nông hộ.
Nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng yếu tố trình độ học vấn, tham gia các tô chức xã hội, tổng diện tích đất sản xuất của hộ, vay vốn sản xuất, cơ sở hạ tầng nông nghiệp sẽ tương quan thuận với quyết định ứng dụng TBKT của nông hộ. Trong khi đó, mức độ ứng dụng TBKT vào sản xuất lúa của nông hộ ở tỉnh còn phụ thuộc vào nguồn lực sản xuất của nông hộ, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. Lê Thị Hồng Mai (2017) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định trồng dâu tây thuỷ canh của các nông hộ tại thành phố Đà Lạt. Nghiên cứu được thu thập từ 150 hộ gia đình trồng dâu tây tại thành phố Đà Lạt (48 hộ trồng dâu tây thuỷ canh và 102 hộ gia đình trồng dâu tây truyền thống).
Các phương pháp được sử dụng trong bài bao gồm: thống kê mô tả, so sánh, lợi ích — chi phí, hồi quy tương quan. Kết S quả cho thấy mô hình trồng dâu tây thuỷ canh đã mang lại lợi nhuận cao gấp hơn 7 lần so với mô hình trồng dâu tây truyền thống, các chỉ tiêu tỷ suất DT/Tổng CP; tỷ suất LN/ Tông DT; tỷ suất LN/Tông CP đều cao hơn rất nhiều so với mô hình trồng dâu tây truyền thống, chỉ ra được các yếu tố: chất lượng sản phẩm, trình độ học vấn, giá bán, diện tích canh tác, năng suất có tác động đến quyết định trồng dâu tây theo mô hình thuỷ canh của các hộ nông dân trên địa bàn thành phô Đà Lạt và đề ra một số giải pháp nhằm khuyến khích mở rộng phát triển mô hình canh tác thuỷ canh trong trồng dâu tây. Lê Thị Thuy Vy (2017) đã tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia mô hình quản lý dich hại tổng hợp IPM của nông hộ trồng tiêu tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Nghiên cứu được thu thập từ 120 hộ trồng hồ tiêu (60 hộ tham gia IPM và 60 hộ không tham gia IPM); sử dụng các chỉ tiêu NPV, IRR để so sánh diện tích, năng suất, sản lượng, hiệu quả sản xuất hồ tiêu hiện nay tai địa phương: kết quả cho thấy nhóm hộ tham gia IPM có hiệu quả về mặt kinh tế hơn nhóm hộ không tham gia IPM.
Ngoài ra nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phân tích hồi quy logistic, kết qua cho thay các yếu tô tác động nhiều đến suất tham gia của chủ hộ vào mô hình IPM là trình độ học van, giá trị đầu tư sản xuất và tuổi vườn tiêu, vì vậy dé cải thiện năng suất cần tập trung vào các yếu tô này với hệ số tác động lần lượt là 0,1341; - 0,1055; - 0. Từ đó đây nhanh quá trình áp dụng quy trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM, áp dụng thành công trong sản xuất hồ tiêu, chính là cách thức phát triển bền vững và là cơ sở dé sản pham hồ tiêu Chư Sê gan với thương hiệu “Hồ Tiêu Sạch” và trong tương lai có thé trở thành thương hiệu mạnh trên thị trường thé giới. Nguyễn Ngọc Thạch (2018) nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng mô hình một phải năm giảm (1P5G) trong sản xuất lúa ở thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng đã sử dụng kết hợp các phương pháp định tính (PRA — Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân) và định lượng: điều tra chọn mẫu với 116 hộ nông dân sản xuất lúa (53 hộ áp dụng mô hình và 63 hộ không áp dụng mô hình “1 phải 5 giảm”). Phương pháp phân tích bao gồm: thống kê mô tả, so sánh, phân tích hiệu quả kinh tế va sử dụng mô hình hồi quy binary logistic để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề áp dụng 1P5G.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kinh tế cao hơn so 6 với việc sản xuất theo tập quán, thông qua mô hình hồi quy binary logistic cho thấy các yếu tố đầu vào: lao động, kinh nghiệm sản xuất và diện tích có tác động đến việc áp dụng IP5G của các hộ nông dân trồng lúa tại thị xã Ngã Năm. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển mô hình “1 phải 5 giảm” làm cơ sở dé nhân rộng mô hình cho các huyện khác trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Nhằm đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng mô hình công nghệ cao. Phan Chí Nguyện và cộng sự (2019) đã nghiên cứu sản xuất lúa và rau màu ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang thực trạng và giải pháp.
Nghiên cứu đã thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp về tình hình sản xuất nông nghiệp thông qua việc trao đôi với cán bộ quản lý và phỏng vấn nông hộ. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê dé phân tích, so sánh và đánh giá. Kết quả cho thấy diện tích canh tác lúa và rau màu chiếm chủ yéu trong đất nông nghiệp. Trong canh tác đã ứng dụng công nghệ và kỹ thuật mới nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng sản phâm va đạt được những thành tựu nhất định.
Tuy nhiên, vẫn còn hạn chế về vốn đầu tư, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp, chính sách đất đai và điều kiện tự nhiên tác động. Từ đó nghiên cứu đã đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhà đầu tư hợp tác, chính sách dao tạo và thu hút nguồn nhân lực, hoàn thiện cơ sở hạ tang và chính sách đất đai. Lê Thị Thu Hà (2019) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng mô hình trồng cà chua trong nhà lưới tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Tác giả đã tiến hành khảo sát 150 hộ nông dân trồng cà chua, số lượng phiếu thu về hợp lệ là 147 (77 hộ trồng cà chua trong nhà lưới và 70 hộ trồng cà chua theo phương pháp truyền thống).
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh, hạch toán toàn phần, phương pháp phân tích hồi quy logistic. Kết quả nghiên cứu cho thấy diện tích trồng cà chua trong nhà lưới có xu hướng gia tăng theo các năm và đạt 2.416 ha vào năm 2017, thông qua phân tích hồi quy chi ra các nhân tố tác động đến quyết định trồng cà chua trong nhà lưới của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Đơn Dương bao gồm 4 yếu tô, trong đó 2 yếu tố tác động mạnh là kỳ vọng vao giá bán cao và năng suất cao, kế đến là thu nhập hiện có cao dẫn đến đủ nguồn lực tài chính để đầu tư và cuôi cùng là kinh nghiệm trông nhiêu hon sẽ tác động đên chon mô hình. Vũ Đức Thường (2021) đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh, kiểm định t — test, chuyên gia và hồi quy logit dé thực hiện dé tài các yếu tố anh hưởng đến quyết định tham gia sản xuất lúa VietGap của nông hộ tại huyện Hòn Dat, tỉnh Kiên Giang. Kết quả nghiên cứu cho thấy diện tích trồng lúa VietGap còn hạn chế nhưng bước đầu đã cho thấy những lợi thế và hiệu quả so với sản xuất lúa không VietGap, thông qua mô hình hồi quy đã chỉ ra các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trồng lúa VietGap: Trình độ học vẫn, tập huấn khuyến nông, diện tích canh tác, hiểu biết về quy trình VietGap, tài chính, điều kiện tiêu thụ và hiệu quả tài chính.
Từ đó, tác gia đề xuất một số giải pháp dé nâng cao mô hình: nâng cao sự hiểu biết của nông hộ về sản xuất theo quy trình VietGap, tăng cường công tác khuyến nông, nâng cao hiệu quả sản xuất lúa VietGap, giải pháp về thị trường tiêu thụ, nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng, phát triển điện tích sản xuất lúa VietGap của các hộ, giải pháp nâng cao trình độ nhận thức cho các nông hộ. Qua đó, ta có thé nhận định các bài nghiên cứu của các tác giả hầu hết sử dụng phương pháp thu thập và xử lý số liệu, phương pháp phân tích số liệu, phương pháp đánh giá hiệu quả, phương pháp phân tích hồi quy logistic đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp: trình độ học vấn, diện tích đất, kinh nghiệm sản xuất, lao động, tập huấn khuyến nông, thu nhập. Kết luận từ những bài nghiên cứu cho thấy mặc dù gặp không ít những khó khăn nhưng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ mới đều mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn truyền thống. Có thể thấy sự khác nhau giữa các phương thức canh tác đóng vai trò quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất nông nghiệp.
Tổng quan địa bàn nghiên cứu 2. Điều kiện tự nhiên a) VỊ trí địa lý Tuy Phước là huyện đồng bằng lớn ở phía nam tỉnh Bình Định, có diện tích 217,12 km?, dân số 226. Về địa hình, phía bắc và tây bắc Tuy Phước giáp Phù Cát, An Nhơn; đông giáp biển; nam giáp TP Quy Nhơn; tây giáp huyện Vân Canh. Nằm bên đầm Thi Nai, có sông Kôn, sông Hà Thanh chảy qua, có quốc lộ 1A, QL19, đường sắt Bắc - Nam chạy ngang qua, Tuy Phước có điều kiện thuận lợi dé phát triển kinh tế.
Huyện Tuy Phước có 13 đơn vị hành chính cấp phường xã, trong đó bao gồm 2 thị tran, 11 xã: thị tran Tuy Phước, thị tran Diêu Trì, xã Phước An, xã Phước Hiệp, xã Phước Hòa, xã Phước Hưng, xã Phước Lộc, xã Phước Nghĩa, xã Phước Quang, xã Phước Sơn, xã Phước Thắng, xã Phước Thành, xã Phước Thuận.