ĐẶT VẤN ĐỀ Xuất phát từ những nhu cầu đơn giản nhất là cất giữ đồ vật của người gửi được an toàn tránh bị mất mát. Bên cạnh đó người gửi phải trả một khoảng phí gọi là tiền công cho người giữ. Ban đầu những đồ vật được gửi chỉ là ngũ cốc, sau đó là gia cầm và nông sản, rồi đến các kim loại quý như vàng. Khi thời đại không ngừng phát triển con người cũng dần nhận thấy rằng việc trao đổi, mua bán bằng tiền thuận tiện hơn bao giờ hết, cũng từ đó mà tiền đứng vị trí đầu tiên trong cán cân thanh khoản.
Bên cạnh kim loại quý như vàng, tiền cũng là tài sản có giá trị cần được gửi và cất trữ một cách an toàn. Xã hội phát triển kéo theo sự phát triển của thương mại, nhu cầu về tiền cũng ngày càng lớn. Những người giữ tiền khi giữ lượng tiền trong tay, những người giữ tiền nảy ra ý định cho vay số tiền này, vì họ nhận ra rằng lượng tiền gửi không phải khi nào cũng bị rút ra trong cùng một thời gian mà nó có sự chênh lệch giữa số tiền gửi và lượng tiền cần rút của chủ sở hữu. Vì vậy, phát sinh nghiệp vụ ngân hàng đầu tiên, nghiệp vụ ngân hàng cơ bản nhất đó là huy động vốn và cho vay.
Nhằm để đáp ứng các nhu cầu, về sau các dịch vụ phát triển hơn đa dạng và phong phú hơn nữa. Thực tế hiện nay các ngân hàng phát triển các gói dịch vụ đa dạng, không chỉ mục đích cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau mà còn mục đích chính đó là phục vụ cho người đi vay và người gửi tiền cảm thấy an toàn, hài lòng với dịch vụ của ngân hàng. Tại các nước phát tiển trên thế giới dịch vụ ngành ngân hàng đã trở thành dịch vụ nền tảng. Trong quá trình hoạt động, việc thu phí dịch vụ ngân hàng đã được các ngân hàng trên thế gới làm nguồn doanh thu chủ đạo trong kinh doanh ngân hàng.
Nền kinh tế, xã hội Việt Nam (VN) ngày càng phát triển hơn, cùng với đó nhu cầu về những dịch vụ liên quan đến tiền tệ cũng đưa ra nhiều thách thức cho ngân hàng hơn như: gửi tiền, vay tiền, chuyển tiền, gửi tiền thanh toán…, đối mặt với thách thức từ thị trường cũng như đáp ứng đa dạng hoá các yêu cầu của khách hàng, ngân hàng cũng nhận thấy được lợi ích tiềm năng của lĩnh vực dịch vụ. Từ đó, các ngân hàng trong nước đã và đang xây dựng cơ sở hạ tầng, đa dạng hoá các gói dịch vụ trong tương lai để góp phần phát triển đất nước. Các ngân hàng thương mại (NHTM) đang tập trung vào dịch vụ ngân hàng (DVNH) và xem đó là một trong những lĩnh vực thiết yếu để hoà mình vào xu hướng hội nhập mới. Để đáp ứng đa dạng các nhu cầu cho người sử dụng và mở rộng hoạt động của NHTM và các tổ chức tín dụng (TCTD) đã và đang xúc tiến khẩn trương xây dựng và triển khai các ứng dụng, giải pháp hỗ trợ cho giao dịch qua mạng.
Bên cạnh sự phát triển của công nghệ thông tin là kèm theo việc tăng cường bảo mật dữ liệu, an toàn hệ thống. Thách thức, áp lực mà các ngân hàng phải đối mặt hiện nay: là cạnh tranh đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, giảm chi phí, giảm thiểu rủi ro để bảo vệ khách hàng cũng như đảm bảo sự hoạt động của chính mình. Thấy được những điều kiện tiềm năng để phát triển và những khó khăn trên, 1 Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt (LienvietPostBank) đã và đang dần dần nâng cao sức cạnh tranh của mình, bằng cách cung cấp các dịch vụ tốt nhất để hài lòng đối với khách hàng nhằm giữ vững thị phần, thu hút nhiều khách hàng hơn nữa. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay việc đánh giá sự hài lòng của khách hàng ở LienvietPostBank chỉ mang tính cảm nhận chủ quan của một số cá nhân, chưa có đề tài nghiên cứu để đánh giá được vấn đề một cách khách quan nhất.
Vì vậy, tác giả chọn nội dung: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt CN An Giang PGD Châu Phú” làm đề tài nghiên cứu. Thông qua kết quả nghiên cứu, LienvietPostBank CN An Giang PGD Châu Phú và một số NHTM khác có điều kiện tương đồng có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu trong quá trình xây dựng chiến lược thu hút nguồn vốn huy động đối với hạn mục khách hàng cá nhân.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu chung Xác định các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến sự lựa chọn gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân (KHCN), từ đó đề xuất giải pháp thu hút KHCN đến gửi tiền tiết kiệm tại LienVietPostBank CN An Giang PGD Châu Phú thông qua các yếu tố có tác động.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu chung tác giả đề xuất 3 mục tiêu cụ thể như sau: Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng tiền gửi tiết kiệm (TGTK) của KHCN tại LienVietPostBank CN An Giang PGD Châu Phú trong giai đoạn từ năm 2018 - 2020. Mục tiêu 2: Xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến sự lựa chọn gửi tiền tiết kiệm của KHCN tại LienVietPostBank CN An Giang PGD Châu Phú. Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp thông qua các yếu tố có tác động đến sự lựa chọn của KHCN nhằm nâng cao lượng tiền huy động từ nguồn TGTK cho LienVietPostBank CN An Giang PGD Châu Phú.3 CÁC GIẢ THIẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 1.1 Các giải thuyết cần kiểm định Giả thuyết nghiên cứu được tác giả đưa ra trong đề tài là: không có yếu tố nào trong phần các yếu tố ảnh hưởng được tác giả đề xuất có tác động đến sự lựa chọn của khách hàng trong việc gửi tiền tiết kiệm.2 Câu hỏi nghiên cứu Để hoàn thành được đề tài nghiên cứu tác giả cần phải trả lời được các câu hỏi sau: § Yếu tố nào ảnh hưởng đến sự lựa chọn của KHCN? 2 § Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự lựa chọn của KHCN? § Giải pháp nào giúp LienVietPostBank CN An Giang PGD Châu Phú nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm thu hút được KHCN? 1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.1 Phạm vi không gian Đề tài được nghiên cứu tại LienVietPostBank CN An Giang PGD Châu Phú.2 Phạm vi thời gian § Số liệu thứ cấp: Các dữ liệu được cung cấp từ các nghiên cứu, báo cáo thường niên của LienvietPostBank giai đoạn 2018 – 2020.
§ Số liệu sơ cấp: Phỏng vấn KHCN hiện tại và tiềm năng của LienvietPostBank trong tháng 9/2021. § Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu là 12 tuần, từ ngày 02/8/2021 – 18/10/2021.3 Nội dung nghiên cứu Nội dung nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự lựa chọn gửi tiền tiết kiệm của KHCN, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút ngày càng nhiều KHCN tiếp cận, sử dụng dịch vụ TGTK của KHCN tại LienVietPostBank CN An Giang PGD Châu Phú.5 LƯỢC KHẢO CÁC TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lược khảo tài liệu ngoài nước 1.1 Lược khảo tài liệu tham khảo 1 Lim Chee Seong và các cộng sự (2011) nghiên cứu đề tài “Phân tích các yếu tố tâm lí ảnh hưởng đến người gửi tiết kiệm ở Malaysia”. Mục đích của bài nghiên cứu là khám phá những tác động ảnh hưởng đến yếu tố tâm lý của người gởi tiền tiết kiệm. Xác định các yếu tố tác động và mức độ ảnh hưởng đến tâm lý của người tiết kiệm nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong vào ngoài Malaysia.
Đối tượng khảo sát của bài nghiên cứu là những người đang cư trú tại thung lũng Klang và từ 21 tuổi trở lên. Thời gian thu thập dữ liệu bằng bảng câu hỏi và gọi phỏng vấn qua điện thoại kéo dài từ tháng ba đến tháng tư năm 2010. Có 400 bảng khảo sát được đưa vào mô hình nghiên cứu, các yếu tố tác động đến tâm lí của người tiết kiệm bao gồm: ảnh hưởng xã hội, thái độ đối với tiết kiệm và yếu tố tự kiểm soát. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy yếu tố tác động đến tâm lí người tiết kiệm gồm: sự ảnh hưởng của người thân và các mối quan hệ xã hội khác, suy nghĩ và thái độ của bản thân đối với việc tiết kiệm, khả năng tự kiểm soát của bản thân trong việc chi tiêu.2 Lược khảo tài liệu tham khảo 2 Jembere Hambissa Geleta (2014) nghiên cứu “Các yếu tố quyết định huy động tiền gửi tại các ngân hàng thương mại tư nhân của Ethiopia”.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 06 NHTM tư nhân trong tổng số 16 NHTM tại Ethipoia. Những ngân hàng được chọn vào trong nghiên cứu đã hoạt động trong lĩnh vực từ 15 cho tới 20 năm. Dựa vào các tiêu chí lựa chọn trên tác giả tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp bằng cách khảo sát thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn. Dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong bài nghiên cứu của tác giả được cung cấp từ báo cáo thường niên của các NHTM được khảo sát.
Nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực tài chính, nhằm mục tiêu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền vào NHTM tư nhân. Quyết định gửi tiền vào NHTM tư nhân được tác giả xác định bằng 5 biến độc lập: tính thanh khoản, mức độ an toàn vốn, tỷ giá hối đoái, tổng sản lượng quốc nội và số lượng chi nhánh NHTM tư nhân. Kết quả thu được từ phân tích hồi quy: tỷ giá hối đoái ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động huy động vốn của các NHTM tư nhân trong khi mức thanh khoản và mức an toàn vốn lại cho kết quả hồi quy ảnh hưởng không đáng kể. Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng tổng số tiền gửi của khách hàng tại chi nhánh tăng từ năm này qua năm khác tỷ lệ thuận với sự mở rộng chi nhánh của ngân hàng, tức là khi khách hàng chọn gửi tiền tại một chi nhánh số khách hành tăng lên theo hàng năm thì điều này nói lên số lượng chi nhánh phòng giao dịch sẽ mở rộng để phục vụ và đáp ứng đa dạng nhu cầu của khách hàng; Cũng có thể nói rằng khi khách hàng lựa chọn gửi tiền của họ vào ngân hàng họ sẽ lựa chọn những ngân hàng có nhiều chi nhánh phòng giao dịch trong khu vực.