CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Những vấn đề cơ bản về hoạt động xuất khẩu 1. Khái niệm về xuất khẩu 1.
Các khái niệm xuất khẩu “Xuất khẩu (Export) làviệc bán sản phẩm làm từ một quốc gia để bán cho chí nh quốc gia đó tiêu dùng hay bán lại cho các quốc gia khác.”(HàNam Khánh Giao, 2021, 35) Mộtz địnhz nghĩaz khácz vềz xuấtz khẩuz đượcz đưaz raz trongz giáoz trì nhz thươngz mạiz quốcz tếz đóz làz “Cácz quốcz giaz muaz vàz bánz hàngz hóa,z dịchz vụz từz nhau.z Xuấtz khẩuz làz sảnz phẩmz đượcz bánz từz nướcz nàyz sangz nướcz khác”.( Feenstra & Taylor, 2010, 56) Hoạt động xuất khẩu hàng hoálàviệc bán hàng hoávàdịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, với mục tiêu làlợi nhuận. Tiền tệ ở đây có thể làngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động này là thu được một khoản ngoại tệ dựa trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hoágiữa các quốc gia đều cólợi thìcác quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này.
Theo một cách chung nhất thìkhi nào cóbất cứ một lượng tiền nào đó được dịch chuyển qua biên giới một quốc gia để chi trả cho một lượng hàng hoádịch vụ được đưa ra khỏi quốc gia đó thì khi đó người ta cho rằng một thương vụ xuất khẩu đã được kinh doanh. Đặc điểm hoạt động xuất khẩu Trong cuốn Quản trị xuất nhập khẩu, Đoàn Thị Hồng Vân (2020) đã nêu đặc điểm hoạt động xuất khẩu cónhững yếu tố sau: − Hai chủ thể chính trong hoạt động xuất khẩu (bên mua vàbên bán) lànhững cá nhân hay tổ chức có tư cách pháp nhân, có quốc tịch vàtrụ sở chí nh của doanh nghiệp đóng ở các nước khác nhau. Đây là điểm khác biệt cơ bản vàquan trọng nhất. Chí nh vì sự khác biệt trong ngôn ngữ, lối sống, phong tục tập quán, cách thức làm việc…giữa hai bên nên nghiệp vụ xuất khẩu thường khó khăn, phức tạp vàdễ nảy sinh mâu thuẫn hơn so với buôn bán hàng hoá trong nước.
− Hàng hoátrong hoạt động xuất khẩu có thể bị dịch chuyển qua biên giới một quốc gia vàkhối lượng hàng hoá thường làlớn hơn rất nhiều so với buôn bán trong nước. − Phương tiện thanh toán dùng trong xuất khẩu cóthể làngoại tệ đối với một bên hoặc với cả hai bên do thoả thuận trong hợp đồng xuất khẩu. 1 − Nguồn luật điều chỉnh quan hệ mua bán, giải quyết các tranh chấp khi phát sinh cóthể làluật của nước bên mua, luật của nước bên bán hay luật quốc tế mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng. Các hình thức xuất khẩu Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2020) các hì nh thức xuất khẩu gồm có: − Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp làhình thức xuất khẩu màcác doanh nghiệp ngoại thương tự bỏ vốn ra mua sản phẩm từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó trực tiếp tiến hành các giao dịch buôn bán vàkíkết hợp đồng xuất khẩu với đối tác nước ngoài nếu được chính phủ cho phép.
Với hình thức này các doanh nghiệp trực tiếp quan hệ với các khách hàng nước ngoài màkhông qua bất kỳ một trung gian nào. + Ưu điểm: Các doanh nghiệp sẽ đạt được hiệu quả kinh doanh cũng như lợi nhuận cao hơn do tự mình mua được hàng hoátốt phùhợp với yêu cầu khách hàng với giámua vào thấp vàkhông phải cho trả chi phícho bên trung gian nào. Các điều kiện trong hợp đồng xuất khẩu (giácả hàng hoá, phương tiện vận chuyển, thời gian và địa điểm giao hàng, phương thức thanh toán) do hai bên tự thoả thuận và quyết định nên sẽ đảm bảo được lợi ích của hai bên. Các doanh nghiệp xuất khẩu có cơ hội thâm nhập thị trường, trực tiếp tì m hiểu nhu cầu sở thích cũng như ý kiến phản hồi từ khách hàng nên khả năng đáp ứng yêu cầu hay khắc phục thiếu sót sẽ tốt hơn.
+ Nhược điểm: Độ rủi ro lớn, hàng hoácóthể không bán được hay bán chậm do những biến động a khách hàng hay từ thị trường dẫn đên ứ đọng vốn kinh doanh. từ phí Khối lượng hàng hoáphải đủ lớn để bù đắp các chi phí điều tra thị trường, giao dịch, hải quan… mà doanh nghiệp phải bỏ ra. Đối với các thị trường mới thâm nhập, chưa hiểu rõthìcác doanh nghiệp xuất khẩu dễ bị ép giá, bị lấn át… Hình thức này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp cóqui môlớn, các cán bộ ngoại thương phải có trình độ vànghiệp vụ cao, sản phẩm xuất khẩu phải có uy tín tương đối trên thị trường. Đặc biệt các doanh nghiệp chỉ nên xuất khẩu theo hì nh thức này khi đã biết rõvề khách hàng, về nhu cầu thị trường để tránh khỏi những rủi ro đáng tiếc.
− Xuất khẩu tại chỗ Đây là hình thức xuất khẩu màhàng hoákhông nhất thiết phải dịch chuyển qua biên giới quốc gia màvẫn đến được tay khách hàng nước ngoài. Một điểm đặc biệt của 2 Thư viện ĐH Thăng Long nh thức xuất khẩu này làkhách hàng tự tìm đến doanh nghiệp bán hàng chứ doanh hì nghiệp không phải tự đi tìm kiếm khách hàng. nh thức xuất khẩu này được tiến hành thông qua việc bán hàng tại các hội chợ, Hì triển lãm, địa điểm du lịch cho các khách nước ngoài. Hình thức này đang được khai thác tối đa tại các nước cóngành du lịch phát triển mạnh vàcónhiều đơn vị kinh doanh hay các tổ chức nước ngoài đóng tại đó.
+ Ưu điểm: Các doanh nghiệp xuất khẩu tránh được nhiều rủi ro do việc buôn bán được tiến hành ngay trong môi trường quen thuộc nhất (tại nước mì nh) Doanh nghiệp không phải chi phícho công tác nghiên cứu tìm kiếm thị trường, vận chuyển hàng hoáqua biên giới, không phải tiến hành các thủ tục hải quan, mua bảo hiểm quốc tế… Hì nh thức này không chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu vìlợi nhuận thu được nhỏ lại không ổn định. Phần lớn doanh nghiệp tập trung đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài để mở rộng thị trường về mặt không gian vàchủ động trong tìm kiếm thị trường, bạn hàng mới. Song đối với các doanh nghiệp cóchi nhánh ở nước ngoài thìthực hiện kinh doanh ngay tại thị trường đó lại làphổ biến vàhiệu quả. Đó là nhờ vào lợi thế về vị trí,ở ngay thị trường tiêu thụ sẽ giảm thiểu được chi phívận chuyển vàthủ tục hỗ trợ rườm rà.
+ Nhược điểm Xuất khẩu tại chỗ đối mặt với rủi ro về an ninh vàan toàn do hàng hóa vàdịch vụ không được kiểm soát nghiêm túc ngay từ đầu. Điều này cóthể tạo ra khả năng mất mát, hư hại hoặc thậm chílàrủi ro liên quan đến an toàn lao động. Doanh nghiệp cần phải đối mặt với thách thức quản lýhàng hóa vàdịch vụ ngay tại địa điểm sản xuất hoặc cung ứng. Điều này đôi khi có thể tăng độ phức tạp vàyêu cầu một hệ thống quản lýhiệu quả để đảm bảo sự linh hoạt và đồng bộ trong quátrì nh xuất khẩu.
Xuất khẩu trực tiếp còn giảm khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp do hạn chế về việc không xuất khẩu được nhiều sang các thị trường quốc gia khác. − Xuất khẩu ủy thác Đây là một hình thức dịch vụ thương mại, trong đó đơn vị cóhàng xuất khẩu (bên uỷ thác) sẽ giao cho đơn vị xuất khẩu (bên được uỷ thác) tiến hành xuất khẩu một lô hàng nhất định với danh nghĩa của bên được uỷ thác nhưng với chi phícủa bên uỷ thác. Đơn vị xuất khẩu chỉ thực hiện các thủ tục xuất khẩu hàng hóa, kể cả vận chuyển và được nhận một khoản tiền do bên uỷ thác trả (gọi làphíuỷ thác). 3 + Ưu điểm: Doanh nghiệp ngoại thương không phải tự bỏ vốn ra mua hàng, không phải chi cho các khoản nghiên cứu thị trường, giao dịch kíkết hợp đồng xuất khẩu, không phải chịu trách nhiệm cuối cùng về việc bán hàng nên tránh được những rủi ro trong kinh doanh màvẫn thu được lợi nhuận chắc chắn từ phíuỷ thác.
+ Nhược điểm: Vìkhông tham gia trực tiếp vào quátrì nh nghiên cứu, tìm kiếm thị trường xuất khẩu nên thị trường vàkhách hàng của doanh nghiệp bị hạn chế tương đối. − Xuất khẩu gia công Gia công xuất khẩu làmột phương thức sản xuất hàng xuất khẩu. Trong đó người đặt gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước. Người nhận gia công trong nước tổ chức quá nh sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách.
Hàng hoásau khi sản xuất xong được trì giao cho bên đặt gia công. Bên nhận gia công được trả tiền công. Khi hoạt động gia công vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì được gọi làgia công quốc tế. Theo hì nh thức xuất khẩu này, doanh nghiệp ngoại thương đứng ra nhập nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm về cho các đơn vị nhận gia công từ các khách hàng nước ngoài đặt gia công.
Sau đó, đơn vị ngoại thương sẽ nhận thành phẩm từ các đơn vị nhận gia công vàxuất sản phẩm này sang cho khách hàng nước ngoài đã đặt gia công. Đơn vị ngoại thương sẽ nhận được khoản tiền thùlao gia công. + Ưu điểm Hoạt động gia công xuất khẩu có đặc điểm làdoanh nghiệp ngoại thương không phải bỏ vốn vào kinh doanh nhưng thu được hiệu quả cũng khá cao, ít rủi ro vàkhả năng thanh toán đảm bảo vì đầu ra chắc chắn. Đây là hình thức rất thích hợp với các doanh nghiệp Việt Nam vìcác doanh nghiệp vốn đầu tư hạn chế, chưa am hiểu về luật lệ vàthị trường thế giới, chưa có thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp nổi tiếng qua gia công xuất khẩu vẫn cóthể thâm nhập ở mức độ nhất định vào thị trường thế giới.
Qua gia công xuất khẩu, doanh nghiệp cóthể tích lũy kinh nghiệm tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu, kinh nghiệm làm thủ tục xuất khẩu vàcóthể tích lũy vốn. Rủi ro kinh doanh xuất khẩu ít vì đầu vào và đầu ra của quá trình kinh doanh đều do phía đối tác đặt gia công nước ngoài lo. Đây là hình thức giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, thu ngoại tệ. 4 Thư viện ĐH Thăng Long + Nhược điểm Nếu doanh nghiệp muốn thực hiện theo hì nh thức này, doanh nghiệp phải quan hệ được với các khách hàng đặt gia công có uy tín.
Đây là một hình thức phức tạp, nhất là trong quátrình thoả thuận với bên khách hàng gia công về số lượng, chất lượng, nguyên vật liệu vàtỷ lệ thu hồi thành phẩm, giám sát quá trình gia công.